Dọc dải đất miền Trung từ thành phố Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến Khánh Hòa, Bình Thuận…, tiếng trống, tiếng mõ, câu hô thường rộn ràng vang lên giữa sân đình rộng hay bãi đất trống mỗi khi lễ, Tết. Hội Bài Chòi bao đời đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong nhịp sống của người dân.

Với người miền Trung, đi xem hội không đơn thuần là một cuộc vui. Đó là dịp để cười thả ga trước những câu hô hóm hỉnh, những màn ứng tác duyên dáng của nghệ nhân. Sức hút ấy từng được dân gian đúc kết bằng câu ca dao mộc mạc:“Rủ nhau đi đánh bài chòi/ Để cho con khóc đến lòi rún ra”. Một cách nói dí dỏm để diễn tả sự say mê đến quên cả thời gian.
UNESCO đã vinh danh nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 7.12.2017. Sự ghi nhận này không chỉ dành cho một trò chơi dân gian, mà còn là sự tôn vinh tinh thần sáng tạo, chất hài hước và tình yêu thơ ca của người dân miền Trung.
Bài Chòi là một loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm dựng chòi, diễn xướng, âm nhạc, trò chơi và cả phần thưởng cho người may mắn. Người chơi ngồi trong những chòi tre lợp mái, lắng nghe “anh Hiệu” hoặc “chị Hiệu” hô những câu thai (thơ) ứng với từng quân bài. Mỗi câu hô là một lát cắt đời sống - khi là lời tỏ tình e ấp, lúc lại là tiếng cười châm biếm thói hư tật xấu.
“Anh Hiệu” hay “chị Hiệu” được ví là nghệ sĩ ẩn danh - cũng chính là nhân vật trung tâm của cuộc chơi. Họ là những nghệ sĩ dân gian diễn xướng những bài bản có sẵn lẫn những sáng tạo tức thời mang tính ngẫu hứng, những bài thơ ứng tác đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nói, “anh Hiệu” chính là một nhà thơ dân gian. Hãy thử nghe một đoạn bài chòi:
“Chỗ này là chỗ vui chơi
Có trống nẫu nhịp, có cây kèn nẫu thổi ò í e.
Có rượu rồi lại có chè
Cô cứ gác chân tréo ngoảy ngồi nghe hô bài…”
Theo một số tài liệu nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX, trong đó có công trình của học giả Pháp gốc Ba Lan G.L. Bouvier xuất bản tại Paris năm 1928 (Nhà nghiên cứu này đã dành riêng một chương có tiêu đề “Những bài hát phổ thông của người An Nam” để nói về Bài Chòi), thì Bài Chòi xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XV. Từ những chòi canh rẫy dựng giữa vùng đất mới hoang sơ, người dân đã nghĩ ra cách hát đối đáp qua ống tre, dây nối... giữa các chòi để giải khuây. Lâu dần, sinh hoạt ấy phát triển thành một hình thức diễn xướng dân gian độc đáo.
Làn điệu Bài Chòi rất phong phú về tiết tấu: khi da diết, sâu lắng; lúc lại rộn ràng, giục giã. Chính sự linh hoạt ấy giúp nghệ nhân chuyển tải trọn vẹn câu chuyện đời - từ chuyện làng, chuyện biển đến tâm tư con người trong xã hội hiện đại. Phần thưởng trong hội chơi chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, bởi điều níu chân người xem là cảm giác được hòa mình vào một không gian văn hóa cộng đồng đậm đà bản sắc.
Tại nhiều địa phương, hội Bài Chòi thường diễn ra nhiều lần trong năm, trong đó xôm tụ nhất là vào đầu năm Âm lịch. Tại Hội An, đêm Bài Chòi bên bờ sông Hoài đã trở thành một “đặc sản” văn hóa được duy trì mấy năm qua. Giữa không gian lung linh của Phố cổ Hội An, tiếng hô thai vang lên vừa sôi nổi, vừa nền nã, góp phần làm nên nhịp sống sinh động mà vẫn giữ nguyên vẻ trầm mặc đặc trưng của đô thị di sản. Ở đây, người ta gọi vui đó là “Hát Di sản trong lòng Di sản”.
Giữa muôn vàn lựa chọn giải trí ngày nay, hội Bài Chòi vẫn giữ được chỗ đứng riêng trong lòng người dân. Bởi hơn cả một trò chơi dân gian, đó là nơi ký ức cộng đồng được đánh thức, nơi tiếng cười vang lên giòn giã và nơi “hồn quê” miền Trung tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Rời hội Bài Chòi còn nghe văng vẳng ý tứ đầy thú vị:“Tôi bưng khay rượu nạm vàng. Chúc mừng năm mới an khang xóm làng...”.
Bình Minh
Bình luận