Trong Giáo hội Công giáo, hành vi không chung thủy (ngoại tình) xảy ra trước hay sau Bí tích Hôn phối có thể được coi là căn cứ để tuyên bố hôn nhân đó là vô hiệu (không thành sự) không?
Vũ Ngọc, Bến Tre

Trả lời của linh mục Giuse Vũ Đức Thiện, giáo sư Đại Chủng viện Thánh Quí Cần Thơ: Tại các tòa án Công giáo trên khắp thế giới, chủ đề về sự không chung thủy trong hôn nhân là một cuộc thảo luận thường xuyên. Vì ý định chung thủy tại thời điểm kết hôn là cần thiết để hôn nhân thành sự. Nhiều người hỏi rằng, hành vi không chung thủy trong tương lai hay trong quá khứ của cặp vợ chồng có được coi là bằng chứng để hủy bỏ hôn nhân không? Câu trả lời là không. Sự không chung thủy về mặt tình dục trong hôn nhân là nghiêm trọng, tức là tội trọng. Nó phá hủy mối quan hệ yêu thương giữa vợ chồng; nó gây ra tai tiếng và tổn hại rất lớn không chỉ cho cặp vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến gia đình và trên phạm vi rộng hơn là xã hội. Tuy nhiên, sự không chung thủy không phải là căn cứ để hủy bỏ giao ước hôn nhân. Nếu cô dâu hoặc chú rể tại lễ Hôn phối có ý định không chung thủy nhưng trên miệng vẫn nói lời hứa chung thủy thì hôn nhân không thành sự. Mặt khác, nếu cô dâu và chú rể tại lễ Hôn phối có ý định chung thủy suốt đời, thì những lần không chung thủy trong tương lai sẽ không thể hủy bỏ sự thật rằng họ đã hình thành một cuộc hôn nhân thành sự, nghĩa là mọi thứ cần thiết liên quan đến ý định chung thủy về mặt tình dục đều có mặt trong lễ Hôn phối của họ, đây là một thực tế không thể thay đổi. Vì thế, một hành vi (hoặc nhiều hành vi) không chung thủy không thể thay đổi được giá trị pháp lý của cuộc hôn nhân này.
Vậy nếu một người nữ hoặc người nam ngoại tình trước khi cử hành lễ Hôn phối vài tháng hoặc vài ngày thì sao? Điều này cho thấy ngay từ đầu cô này hoặc anh này chưa bao giờ có ý định chung thủy phải không? Đây có thể là bằng chứng để làm cho một cuộc hôn nhân vô hiệu không? Câu trả lời là sai. Để minh họa tại sao điều này sai, chúng ta hãy tưởng tượng một người đàn ông đi xưng tội với nỗi buồn sâu sắc về tội lỗi của mình cùng với mục đích quyết tâm sửa đổi. Vị linh mục nghe tội lỗi, rồi sau đó ban phép giải tội và anh ta sẽ làm việc đền tội của mình theo gợi ý của cha giải tội. Nhưng rồi lại phạm một trong những tội lỗi tương tự đó chỉ một tuần hoặc ba ngày sau đó. Như thế mục đích sửa đổi của anh ta sau khi xưng tội là gian dối? Hãy tiếp tục câu hỏi này bằng một câu hỏi cho chính bản thân: Ai trong chúng ta chưa từng rơi vào hoàn cảnh của anh này không? Khi suy ngẫm những câu hỏi đó, hãy nhớ rằng, Giáo hội khuyến khích chúng ta xưng tội thường xuyên. Tần suất như thế nào? Tại Fatima, Đức Mẹ hiện ra và yêu cầu xưng tội trong năm tháng liên tục. Nhưng nếu mục đích chắc chắn của việc sửa đổi có nghĩa là không bao giờ phạm tội nữa, thì cần gì phải xưng tội lần sau, chứ đừng nói chi đến mỗi tháng? Rõ ràng, một người có thể có ý định sửa đổi một cách chân thành và kiên quyết nhưng lại rơi vào những tội lỗi tương tự trước đó, thì không làm cho lời xưng tội của họ trở nên vô hiệu. Thật ra, người sám hối có ý định sửa đổi vào lúc hiện tại là điều quan trọng nhất, những hành động tiếp theo không thể thay đổi ý hướng này. Với hôn nhân cũng giống vậy, vì thế, những người nghĩ rằng sự không chung thủy trước hoặc sau khi cử hành Bí tích Hôn phối làm cho hôn nhân trở nên vô hiệu, là đang hiểu sai về Bí tích Hôn phối. Chúa tha thứ cho sự không chung thủy khi họ có sự sám hối thực sự. Đừng bao giờ nghi ngờ điều đó. Cuối cùng, không gì có thể “làm cho” một cuộc hôn nhân đã hoàn hợp trong Giáo hội Công giáo trở nên vô hiệu. Ngay cả tòa án hôn nhân địa phương, Giám mục, hay giáo hoàng (cả đặc ân của Thánh Phêrô và Phaolô) cũng không thể làm thay đổi một hôn nhân đã thành sự trở nên vô hiệu.
Bình luận