Người ta thường gọi những cô gái đẹp khơi gợi cảm hứng sáng tác cho văn nghệ sĩ là “nàng thơ”. Có người diễn giải “nàng thơ” nghĩa là cô gái ngây thơ, trong sáng, tinh khôi, hoặc mang vẻ đẹp thơ mộng. Thật ra từ “nàng thơ” trong tiếng Việt là cách dịch mềm mại của từ “Muse” trong tiếng Anh. Chính từ này cũng vay mượn từ thần thoại Hy Lạp - La Mã, vốn là tên chung của các nữ thần thi ca (thi thần). Tùy theo từng thời kỳ, vùng miền ở Hy Lạp cổ, số lượng và tên gọi của nữ thần Muse lại khác nhau. Thời kỳ sơ khai chỉ có ba nàng, đến thời nhà hùng biện Cicero thì ông tạo ra bốn nàng. Phiên bản phổ biến nhất hiện nay do triết gia Plato viết nên, gồm chín nàng Muse, bảo trợ cho các môn nghệ thuật cổ đại: sử thi, sử học, hùng biện, khiêu vũ, âm nhạc, thơ, hài kịch, bi kịch, chiêm tinh học (về sau là thiên văn học). Vai trò của các nữ thần này là truyền cảm hứng và động lực cho người làm nghệ thuật.

Khi thời thế đổi thay, các môn nghệ thuật quan trọng của phương Tây cũng biến đổi theo. Vậy là giới nghệ sĩ tạo ra bảy nàng Muse mới, bảo trợ cho kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học, âm nhạc, kịch nghệ, cuối cùng là môn nghệ thuật thứ bảy - điện ảnh. Ngoài bảy môn nghệ thuật truyền thống, hiện nay còn có bảy môn nghệ thuật khai phóng: ngữ pháp, hùng biện, số học, hình học, logic học, âm nhạc và thiên văn học. Hóa ra trong nghệ thuật khai phóng, ngay cả toán học cũng là một nàng thơ. Hèn gì vài cậu học sinh, sinh viên từng bảo cảm giác giải được bài toán khó còn “phê” hơn trúng số. Có lẽ đây là cảm giác sung sướng khi chinh phục “nàng thơ” toán. Quả đúng như Will Durant nói: “Mọi môn khoa học đều bắt đầu là triết học, và kết thúc là nghệ thuật”.
Có lẽ vì hình tượng nữ thần Muse trong thần thoại, người đời thường cho rằng chỉ có phái nữ mới có thể trở thành vị thần thi ca của người khác, bởi vậy mới có từ “nàng thơ” chứ không phải “chàng thơ”. Ngẫm lại thì trong lịch sử, các nàng thơ nổi bật đều là phụ nữ, hầu như chẳng đề cập đến đàn ông. Chẳng hạn mỹ nhân tóc vàng Simonetta Vespucci - nàng thơ của danh họa Botticelli và nhiều nghệ sĩ thời Phục Hưng. Nàng là nguyên mẫu để vẽ thần Vệ Nữ, Đức Mẹ Maria trong nhiều bức tranh của Botticelli. Dù yểu mệnh nhưng Simonetta đã sống mãi qua những tác phẩm bất hủ ấy. Một nàng thơ nổi tiếng khác là Edith, vợ của nhà văn J.R.R Tolkien, tác giả tiểu thuyết “Chúa tể của những chiếc nhẫn”. Thuở hai vợ chồng mới gặp nhau, Edith đang nhảy múa giữa vườn hoa, vẻ đẹp rạng rỡ của cô in sâu vào tâm trí chồng. Từ cảm hứng lãng mạn đó, Tolkien dần tạo nên hai tiên nữ đẹp nhất trong tiểu thuyết của mình và đặt biệt danh cho vợ theo một trong hai người này.
Tuy nhiên, bên cạnh rất nhiều nàng thơ, vẫn tồn tại nhiều chàng thơ giúp giới văn nghệ sĩ thổi hồn cho nhân vật, tác phẩm. Ví dụ thám tử Sherlock Holmes được lấy cảm hứng từ giáo sư kiêm bác sĩ phẫu thuật Joseph Bell; bá tước ma cà rồng Dracula dựa trên “vương công xiên người” Vlad III của Rumani; Robinson Crusoe có nguyên mẫu là Alexander Selkirk, một thủy thủ người Scotland bị lạc trên đảo hoang… Ngoài những chàng thơ truyền sức sống cho các nhân vật anh hùng, phản diện, còn có một chàng thơ đẹp đến mức ảnh hưởng sâu sắc đến nền truyện tranh Nhật Bản thập niên 70-90. Đó là Björn Andrésen, “cậu bé đẹp nhất thế giới”. Nét đẹp thiên thần, phi giới tính của cậu là nguồn cảm hứng cho nữ tướng Oscar của truyện “Hoa hồng Versailles”, kẻ phản diện Johan Liebert trong “Monster” và nhiều nhân vật manga ấn tượng khác.
Thế mới thấy, dáng hình, vẻ đẹp và giới tính của các vị thần thi ca là vô cùng phong phú, tựa như sự sáng tạo vô biên của nghệ thuật. Vì vậy, con người đừng chỉ bó hẹp ý nghĩa “nàng thơ” vào những mỹ nữ hay cô gái ngây thơ.
Ths-Bs Lan Hải
Bình luận