Trở về tương lai

(1) Bởi vì tương lai là một sự trở về, tìm về. Không phải “tìm lại”, vì “tìm lại” nghĩa là còn loay hoay chưa biết tìm được hay không. Còn TÌM VỀ là biết chắc chắn, để khám phá chiều sâu của dòng chảy ngầm trong lịch sử. Và, để tương lai không hóa thành ảo vọng.

Một trong những sự tìm về, là cuộc tọa đàm về Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874) quê ở Bồng Sơn (Bình Định), mà tôi có dịp tham dự vào hạ tuần tháng 9 vừa qua tại Chủng viện Qui Nhơn.

(2) Sao gọi đây là một sự tìm về rất đáng chú ý? Linh mục Gioakim sống dưới thời vua Tự Đức, vì đau xót trước Hội Thánh bị lâm nạn, đất nước bị Tây xâm lăng, nên ngài đã dâng vua hai bn điu trn Hoành mao hiến bình Tây sách (橫 茅 獻 平西 策, tạm dịch: Hàn sĩ (sống ở nhà tranh) mạo muội hiến kế sách bình ổn giặc Tây), Minh Đạo bình Tây sách (明道 平西 策: kế sách bình Tây và làm sáng danh Đạo Chúa). Bản điều trần của ngài (năm 1861) đi trước hai năm so với bản điều trần của nhân sĩ Phaolô Nguyễn Trường Tộ (1863).

Linh mục Gioakim dâng kế sách cho triều đình Đại Nam về cách dựng xây đất nước, gồm cả dựng xây binh lực, học hỏi và rèn tập công nghệ võ khí từ phương Tây để chống lại “mọi Tây” (chữ dùng của linh mục Tuấn); song hành với sứ mệnh làm sáng danh đạo Chúa, sáng danh những tín hữu Công giáo giữa muôn trùng oan ức.

“Nếu bọn giặc nói vì Đạo (Công giáo) mà sang, thì hành động của chúng thật hết sức vô đạo. Trước cứ đem lý, đem Đạo này ra cật vấn chúng nó để phanh phui lòng xấu hổ, vô liêm sỉ của chúng, kế đó đưa người có Đạo để chống trả, để chế ngự thói ngang tàng bạo ngược của chúng” - trích trong bản điều trần gửi vua Tự Đức.

Diễn giải cho nhà vua hiểu vì sao người Công giáo trung kiên giữ Đạo, trong Minh Đạo bình Tây sách, ghi: “không chịu bỏ Đạo, vì là đạo thật của Đấng chủ tể muôn vật, chứ không phải vì lũ giặc nước Phú Lang Sa (Pháp)”.

(3) Vua Tự Đức lấy làm trọng nể, cử linh mục Gioakim Tuấn tham gia phái đoàn nghị hòa cùng hai vị đại quan Phan Thanh Giản (chánh sứ), Lâm Duy Hiệp (phó sứ) đi vô Gia Định (1862).

Quan niệm của linh mục Gioakim rất minh bạch, sắc bén trước Pháp:

“Từng nghe lấy nghĩa lý Đức hạnh ra giảng đạo, chưa từng nghe dùng gươm dao, tàu thuyền súng đạn ra giảng đạo bao giờ! Xin hỏi quý quốc hành động như thế là theo loại Đạo lý nào?”;

“Xin hỏi quý quốc từ xa xôi đến đây, đã lấy cớ vì đạo Gia Tô [1] sao lại đòi hỏi vàng bạc đất đai? Sao lại lấy cớ vì đạo Gia Tô, khiến người có Đạo trong nước Nam phải chịu nỗi oan khiên, oán hận không thể giải bày?”.

(4) Tìm về, trong trường hợp Lm Gioakim Tuấn, còn để khám phá một kho tàng văn chương mang tên “Đặng Đức Tuấn”. Trong địa hạt thơ văn Nam âm (thuần Việt), rồi thơ Hán - Việt.

Tập thơ Tân cựu sấm truyền lục bát kinh văn của Lm Gioakim truyền linh hứng cho điều mà chúng ta giờ đây thường nói, “hội nhập văn hóa”. Kinh Thánh, từ sách Sáng thế cho đến các sách Phúc âm, đi vào tâm cảm Việt bằng thể thơ lục bát gần gũi.

Hành trình tìm về di sản văn hóa, trong đó chứa đựng những bất ngờ để khám phá “Ơn Tri”, qua sự soi sáng của Thánh Linh Chúa.

(5) Trở lại sự kiện “nghị hòa năm 1862”. Đại thần Phan Thanh Giản đã hỏi linh mục Gioakim, và ý kiến của vị linh mục này là: “Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành” (trích trong Lâm nạn phụng quốc hành 臨難奉國 行, là hành khúc trường thiên về công cuộc cứu nước của người Công giáo).

Đó là một quan niệm, kỳ thực chẳng phải là “xung đột, mâu thuẫn” với cụ Phan Thanh Giản, mà tùy thuộc vào việc nhận định thời cuộc. Những ai nghĩ rằng trưởng đoàn đàm phán có thể ký nhượng đất đai lãnh thổ mà không cần chấp thuận từ chính quyền trung ương (thời bấy giờ là nhà vua), là không đúng. Vua Tự Đức đã khin trách Phan Thanh Gin, nhưng vì sao ch 2 năm sau đó, vua li giao trng trách cho Phan Thanh Gin đi thương thuyết vi Pháp? Nhà vua vn đặt tín nhim nơi Phan Thanh Gin. Bi vì c Phan Thanh Gin là người có đức hnh khiêm nhường, t nhn li v mình hết thy, điu này đã giúp nhà vua vt vát được th din sau Hòa ước 1862.

Thấy gì, trong Dự thảo Hòa ước Aubaret 1864 - được ký giữa Phan Thanh Giản và Aubaret? Pháp đồng ý giao trả lại cho Đại Nam 3 tỉnh miền Đông đã chiếm hữu (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường). Bù lại, nhà Nguyễn cho Pháp thực hiện sự bảo hộ 6 tỉnh Nam Kỳ (miền Đông, miền Tây). Thương thuyết lần này của cụ Phan Thanh Giản đã giành lại được 3 tỉnh miền Đông bị chiếm! Nhưng ... mấy ai được nghe nhắc đến Dự thảo Hòa ước Aubaret? Thật cảm phục cụ Phan Thanh Giản, tiếc rằng sau đó, bản dự thảo Hòa ước Aubaret bị Pháp nuốt lời hứa, hủy bỏ [2].

Vua Tự Đức vẫn tín nhiệm vị đại thần thanh liêm Phan Thanh Giản. Bất giác, nhờ đến câu “Thương, dân lập đền thờ”… [3] Và đối với linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn có mt trong phái đoàn ngh hòa năm 1862, nhà vua đã lng nghe mà ra chỉ dụ bãi bỏ “lệnh phân sáp”, giáo dân được trở về quê cũ và được trả lại điền thổ.

(6) Tôi chẳng bao giờ quên buổi nguyện cầu Taizé, nơi bãi biển Trung Lương (Qui Nhơn), trong đêm (sau khi mãn cuộc tọa đàm về linh mục Gioakim Tuấn, vào ban ngày). Những tấm lều cắm trên bãi biển, đón gió khuya mát rượi.

Rồi, sau đó, khi đêm đã yên ắng, đoàn người tìm đến nơi tĩnh mịch, chỉ có ánh trăng dọi xuống. Vài vị linh mục, một số nữ tu và giáo dân cộng tác với Ban Văn hóa giáo phận Qui Nhơn cùng họp nhau. Lắng nghe giai điệu nhạc Taizé.

Trong không gian thiêng liêng ấy, cầu nguyện. Đúng hơn là lời trò chuyện của mỗi người với Thiên Chúa, được thốt ra, để mọi người cũng được nghe.

Có người trò chuyện với Chúa, bằng giọng nói hân hoan.

Có người trò chuyện với Chúa, nghèn nghẹn trong nước mắt...

Trong niềm tin tưởng tương lai nắm trong tay, vì đã cùng nhau tìm về…


1 “Jesus”, người Hoa phiên âm & ghi lại bằng Hán tự: 耶穌, âm Hán-Việt là “Gia Tô”.

2 Nhượng 3 tỉnh miền Tây, bằng Hòa ước Giáp Tuất 1874, chú ý: cụ Phan Thanh Giản không đặt bút ký vì một lẽ đơn giản là cụ đã giã biệt cõi đời trước đó từ lâu, nhưng ... “vong hồn” cụ cứ bị lôi về mà quy trách nhiệm (!).

3 Nguyên văn câu ca: “Thương, dân lập đền thờ. Ghét, dân đái ngập mồ thấu xương”. Ở miền Nam, nhiều nơi như Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Bạc Liêu…, người dân lập đền thờ Phan Thanh Giản.

NGUYỄN CHƯƠNG

Ảnh trong bài này và bài tường thuật Hội thảo ở số báo 2412: TRẦN TIN

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.