Chăm chút môi trường - môi sinh, phải chăng chỉ là chuyện quay về...?

Chưa bao giờ trong lịch sử, loài người thời đại 4.0 khẩn cấp kêu gọi và ra tay chăm lo bảo vệ môi trường, môi sinh đến vậy: từ rừng đến biển và đáy biển, không khí, nước ngầm, rác... Không chỉ chính quyền mới quan tâm mà các tổ chức phi chính phủ, những tập đoàn kinh tế, các tôn giáo… cũng đã coi bảo vệ môi trường, môi sinh là vấn đề thiết yếu.

Ngày nay, khi phát triển công nghiệp, xã hội tiêu thụ, hoạt động khai thác tài nguyên chạy theo nhu cầu sản xuất và tốc độ tăng dân số, kể cả các hoạt động quốc phòng… đã khiến tổn thương của môi trường môi sinh ngày một lớn lao, tác động trực tiếp và rõ rệt đến các chỉ số phát triển, chất lượng đời sống, đe dọa tương lai các thế hệ kế cận. Tình trạng khói bụi, tiếng ồn phá hủy không gian các đô thị, rác thải tràn ngập, đất cằn oằn mình dưới nắng thiếu cây xanh... đã diễn ra khắp nơi.

Sự chăm chút chú tâm bảo vệ môi trường, môi sinh ngày nay có thể khiến không ít người ngộ nhận rằng đấy là một tiến bộ lớn lao của thời đại mới, song thực ra, đó chỉ là một sự quay về.

Khởi thủy, như ở xứ mình, tổ tiên ông bà chúng ta khi được sống trong môi trường, môi sinh tuyệt vời thời xưa: rừng rậm bao phủ, muông thú cây cối xum xuê, không khí và nguồn nước sạch tự nhiên, mật độ dân cư thưa thớt và không hề có dấu vết của hoạt động công nghiệp, một đời sống thuần phác hòa quyện với thiên nhiên... Và ông bà tổ tiên mình cũng đã nâng niu bảo vệ môi trường sống một cách thiết thực cụ thể, có những ý thức trân quý vẫn lưu truyền âm thầm đến tận ngày nay, giữ gìn trong tập quán sống.

Người xưa sống tựa vào tự nhiên chim trời cá nước, nhưng luôn luôn có thái độ trân trọng biết ơn tự nhiên chứ không tận diệt vì sự sinh tồn của mình: coi chuyện phá rừng, tàn phá sông biển là xấu, kỵ qua quan niệm “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”. Với tổ tiên mình, tự nhiên, rừng biển thiêng liêng huyền bí, không thuần chỉ là môi trường. Vì cuộc sống, sự sinh tồn, lâm thời làm nghề “xấu”, có cơ hội phải thoát, và thái độ luôn biết sự thiêng của rừng, biển. Người xưa tránh đốn cổ thụ, đặt bát hương hay xây miếu thờ ở cội cây lớn lâu năm ở làng; tránh săn bắt tận diệt động vật có mang, cá con… Những cấm kỵ và quan niệm ấy thực đậm đà nhân văn, ngày nay chúng ta phải học tập, ngưỡng mộ.

Người xưa giữ gìn sự sạch sẽ cho môi trường sống từ mái ấm gia đình “nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, đến đường làng ngõ xóm. Tỷ lệ rừng tự nhiên bao phủ trùm khắp, vậy mà chỗ ở lúc nào có thể, ông bà tổ tiên mình đều tận dụng không gian trồng trọt, chơi hoa kiểng... Thú chơi cây cảnh tinh tế thanh thoát cũng là một biểu hiện trân quý môi trường sống mang đầy ý nghĩa sâu sắc. Ngày xưa không có chuyện dùng chất nổ xung điện tàn phá sinh vật dưới nước, dùng bẫy keo hay lưới cùng đủ thứ cạm bẫy tinh vi tàn độc tận diệt chim trời, muông thú. Ngày xưa không có chuyện bao ni lông tràn ngập, đụng đâu vứt rác đó. Cuộc sống xưa thuần hậu, như cách hiểu về sống chậm của người trẻ bây giờ. Tổ tiên ông bà mình không lạm dụng nguồn sống từ trời đất: đất cò bay thẳng cánh, lúa đầy đồng nhưng bát cơm đơm không rơi một hạt, rơi một hột cơm cũng nhặt, cơm thừa không bỏ, mọi thứ vén khéo, nâng niu... Mỗi món đồ xài mấy chục hay trăm năm qua nhiều đời, thành kỷ vật gia đình, tiền nhân không biết đến tâm lý sống “mì ăn liền”, vứt ngay dùng ngay như hiện tượng đây đó ở thời chúng ta. Áo hỏng vá khéo dùng tiếp, tận dụng từng chút nhỏ cho cuộc sống cho dù giàu có dư dật đến đâu và coi đó là đạo đức, văn hóa. Con gái nhà gia giáo phải có nếp sống như thế, nếu cẩu thả, hoang phí thì dù nhan sắc “chim sa cá lặn” cũng mất điểm. Lối sống ấy gìn giữ môi trường môi sinh gián tiếp hay trực tiếp, hằn sâu thành văn hóa, thành giáo huấn trong mỗi gia đình.

Thời cũ không có những quy phạm pháp luật, thông tư pháp lệnh… tha thiết kêu gọi và chế tài để bảo vệ môi trường môi sinh như ngày nay, nhưng không thể nói rằng tổ tiên mình không biết bảo vệ môi trường sống! Thực tế ngày nay chúng ta - lớp hậu sinh - phải mướt mồ hôi chạy theo học nếp nghĩ cách làm của tổ tiên mình trong xử thế với môi trường cho các vấn đề hiện đại.

NGUYỄN THÀNH CÔNG

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.