Sông rạch chằng chịt, chỗ nào cũng có cua biển sống tự nhiên. Còn trên vuông láng thì khỏi nói, người ta nuôi để thu hoạch cùng các loại tôm. Cua biển Cà Mau - Bạc Liêu nổi tiếng cả nước, nên mỗi khi đến các thành phố lớn, nhìn mấy tấm bảng hiệu nho nhỏ đề “Cua Cà Mau”, lại thấy thú vị. Thực ra, đồng bằng sông Cửu Long nhiều nơi có cua tự nhiên và cua nuôi, nhưng quê tôi nức tiếng bởi số lượng nhiều và chất lượng thịt ngon đặc biệt.

Cả tuổi thơ tôi gắn với con cua biển. Hết giờ học là lũ trẻ lại leo lên đê, chui vào mấy bụi dừa nước mọc dày để tìm hang. Móc cua trong hang dừa rất cực vì hang sâu, rễ dừa chằng chịt khó đào. Còn một cách khác là ra mấy khoảnh đất láng nhô cao đầy rong mền, nếu trúng mùa thì tha hồ bắt. Chỉ cần bóc mảnh rong lên, thấy hang, lấy miếng rong dày làm “bao tay” đẩy vào hang cạn, con cua nhỏ trồi ra thì tóm gọn cho vào thùng, dễ ợt. Đó là cua nhèm, sống đầy mặt láng dưới lớp rong xanh.
Câu cua là bộ môn “căn bản” hơn vì mùa nào cũng có thể. Lên bờ láng chặt chầm gọng (một loài cây dại), róc lá, chặt khúc chừng một mét, đơm dây nhợ vào, thay vì lưỡi câu, chỉ cần một đoạn kẽm cỡ gang tay là xong. Bắt con lịch (một loài giống lươn nhưng nhỏ) về chặt khúc xỏ vào đoạn dây kẽm làm mồi câu. Nghề này cũng lắm công phu và lý thú. Người câu cột bó lát ngang thắt lưng để dùng trói cua. Đi đồng xa thì mang thêm lon cơm và không quên cái vợt. Thời đó vuông láng nhiều chỗ cho câu cua, miễn đừng lội sạt bờ. Tay câu dò chỗ ngã ba ngã tư mương hay có ô rô cóc kèn che khuất chút, đánh giá “ngon ăn” thì cắm cần câu xuống bờ mương. Nhiều thì hai ba chục cần, ít cỡ mười cần là được, rải rác khắp láng.
Cắm xong, người câu vào bóng râm cây mắm, cây đước hay trong đụt ngồi nghỉ, uống nước ăn cơm rồi mới đi thăm câu. Cái cảm giác hồi hộp, thỏa chí nhất là khi thấy từ xa cần câu bị kéo cong, giật bần bật. Nhẹ nhàng từng bước khẽ, đến sát mép nước, từ từ nín thở nhất cần câu lên trong khi con cua biển vẫn mê mải ăn miếng mồi lịch. Tay nương theo chiều kéo của cua, chân nhẹ dần đi xuống mương, một tay cầm cần câu một tay cầm vợt. Kéo dần cần lên cao, chừng nhác thấy cặp càng cua kẹp mảnh lịch thì nhanh tay xúc.
Thao tác trói cua phải có nghề, quen tay, không thì cua bị sổng hay kẹp đau thấu trời. Con cua trói xong được cột vào thắt lưng tòn teng, đi thăm tiếp cần câu khác. Cái thú của nghề câu ở chỗ gặp cua lớn cỡ ký lô, nội nhìn cần câu bị kéo căng đã sướng rơn. Trúng cua gạch son, ếm vuông thì vô mánh bởi bán được giá; còn cua nhèm, cua óp cũng làm được bữa ăn. Chỉ cua biển thôi nhưng phân loại lớp lang: gạch son, y nhất, y nhì, cua dạt… Dân câu cua quê tôi đi nát những cái tên làng: Giá Cần Bảy, Cây Dương, Long Điền… Dân chuyên nghiệp còn xuống tận miệt rừng Cà Mau đi câu dài ngày để nuôi sống gia đình.
Bây giờ cua được nuôi chuyên canh hoặc xen canh cùng tôm, người ta không còn cho người lạ vào vuông câu hay móc cua nữa. Miếng ăn khó kiếm hơn, mà muốn mua cua ăn cũng không dễ vì giá cao. Cua lớn dành xuất khẩu hoặc vào nhà hàng.
Mấy ngày vừa rồi ngắm “Ngày hội cua Cà Mau” được tổ chức nhộn nhịp ở Sài Gòn, thấy hình ảnh con cua kỷ lục nặng 1,82kg mà chợt hoài nhớ một thời tuổi thơ nắng mưa rong ruổi trên đồng láng. Ngày đó, hai ba đứa bạn đi cùng nhau, cua cỡ một ký là chuyện không hiếm. Hình ảnh xâu cua tòn teng cột thắt lưng, hí hửng đem về trong nắng chiều vẫn in đậm trong ký ức. Con cua ấy từng là tiền mua tập vở, hay là một bữa đại tiệc ở xóm nghèo.
Một thời cua biển của ngày xưa…
Nguyễn Thành Công
Bình luận