Thuở xưa, để có một cái giếng vô cùng gian nan, vì hoàn toàn dựa vào sức cơ bắp; nếu là giếng lớn phục vụ cộng đồng, phải huy động cả làng xã hay thậm chí cần sự tham gia của nhà nước mới mong thành công. Đó là giếng đào lộ thiên. Những giếng cổ lại là một dạng công trình khác, sâu hút với bờ gạch chắc chắn bên trên và dùng gàu thả sâu lấy nước. Việc thi công những giếng này có lẽ còn khó khăn và đòi hỏi kỹ thuật hơn nhiều. Tôi đã đến ngắm một giếng cổ rất đẹp như vậy ở Nam Từ Liêm, Hà Nội, gần cầu Mễ Trì, gợi nhớ đến hình ảnh giếng trong cổ tích Tấm Cám, nơi nàng Tấm nuôi cá bống.
Đi khắp nơi, vẫn thấy còn lại những công trình lấy nước từ thời cha ông để lại. Ví dụ như Ao Bà Om ở Trà Vinh, đây thực ra là một hồ nước lớn dùng chung cho cả vùng, được vây bọc trong mảng rừng Sao cổ thụ trên giồng cát cao, mang giá trị văn hóa và lịch sử lớn, không phải là một loại giếng đào. Phổ biến hơn là các giếng nhỏ dùng chung ở các đình làng. Miền Tây thường có giếng cạnh đình thờ, hoặc những hồ/ao lớn hơn mà dân quê quen gọi là “Ao Đình”, như cạnh đình thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Giá Rai, Bạc Liêu cũ.
Đến thời Pháp thuộc, bên cạnh xây dựng đường sắt, sân bay, đường nhựa, kỹ thuật khoan giếng lấy nước ngầm cũng dần được áp dụng. Thông thường, các công sở lớn hay khu vực dân cư tập trung sẽ được khoan giếng, đưa nước lên bồn cao để trữ, sau đó phân phối qua đường ống hoặc để dân chúng tập trung đến gánh.
Ở miền Nam, cách lấy nước này vẫn phổ biến tại các thị trấn cho đến mãi sau năm 1975. Kỹ thuật khoan giếng phát triển mạnh mẽ khi UNICEF viện trợ kỹ thuật và tài chính để khoan giếng đại trà với phương pháp nhanh gọn. Đội khoan sẽ dùng ống sắt khoan xuống lòng đất theo bản đồ địa chất, lấy đúng mạch nước tốt để dùng. Dần dần, kỹ thuật này phổ biến, tư nhân lập các đội khoan đi khắp vùng sâu vùng xa phục vụ hộ gia đình với mức giá linh hoạt. Khi gắn mô-tơ điện, nước không chỉ dùng cho sinh hoạt mà còn phục vụ trồng trọt, chăn nuôi. Bước tiến này cơ bản giải quyết được nạn khan hiếm nước, dù vẫn đi kèm các vấn đề về môi trường, khai thác quá mức nguồn nước ngầm, và việc khoan quá dày đặc, thiếu quy hoạch, gây ô nhiễm (ví dụ: gần nghĩa địa, trang trại chăn nuôi).
Tôi có dịp đi thực tế cùng một đội khoan giếng như vậy ở Sóc Trăng. Với “biên chế” khoảng năm người, gồm một kỹ thuật, các công nhân, máy móc vật tư chất lên xe hay ghe thuyền cỡ nhỏ, anh em len lỏi rất xa đến tận vùng Đầm Dơi, của Cà Mau hay ngược lên Vĩnh Long, Trà Vinh… Chỉ khi chứng kiến, tôi mới thấy và hiểu thêm về cái khó cái khổ của nghề. Khoan giếng cực bởi di chuyển xa trên sông rạch hàng trăm cây số, nhưng cũng có lắm cái vui. Ở đâu gia chủ cũng coi chuyện khoan giếng là quan trọng, tiếp đội khoan với vịt gà rượu thịt. Cả khúc xóm nghe tiếng máy nổ kéo tới xem giàn khoan dựng cao cao, ống sắt khoan hoài xuống lòng đất, dòng bùn trồi lên theo rảnh chảy xuống mương rạch. Anh “kỹ thuật” canh tại chỗ, dùng mắt thường quan sát cát sỏi bên dưới bị khoan đẩy lên, bằng kinh nghiệm anh biết tương đối chính xác đang ở tầng nào của nguồn nước ngầm. Khi chạm đá, giàn khoan rung lắc dữ dội. Tùy độ dày mỏng của tầng đá mà quyết định giá cả, hoặc có chỗ phải bỏ cuộc vì giàn khoan đơn sơ khó “giải quyết”. Thợ khoan cũng phải chạy dài khi gặp khu vực nước nhiễm phèn mặn nặng (như bên Càn Long, Vĩnh Long), hay khi khoan vào tầng than bùn, gặp tầng khí bốc lên cháy trên mặt đất (vùng bán đảo Cà Mau hay gặp).
Quay lại giàn khoan, anh “kỹ thuật” tập trung bốc cát xem trên lòng bàn tay, khi dưới ánh nắng lấp lánh cát có sắc vàng, anh quyết định ra lệnh ngừng máy nổ, cho lấy nước lên. Khi dòng nước trắng ngần tuôn trào, cả đội khoan cùng gia đình và “khán giả” vỗ tay reo mừng, rượu thịt thuốc lá thơm bày ra. Trẻ nhỏ khoái chí nhào vô tắm ngay với dòng nước đầu tiên, dễ hiểu vì chúng lâu nay sống ở vùng nước mặn chát quanh năm trên vuông láng sông rạch. Công đoạn cuối là gia cố thành giếng, lắp bơm tay, hay lắp thêm bồn lọc than hoạt tính theo yêu cầu gia chủ.
Đội khoan trên ghe cứ thế rong ruổi khắp vùng sông rạch, mình mẩy lấm lem dầu nhớt. Có anh vừa qua xóm nọ, nhớ lại chỉ trỏ: “Chỗ nhà đó tụi mình khoan năm ngoái, có nuôi gà nhiều lắm”; “còn chỗ kia giếng trục trặc, khoan cả ngày không xong muốn đứt hơi…”. Rày đây mai đó cực nhọc, nhưng vui khi khoan thành công từng giếng nước sạch cho bà con, về đến nhà có khoản tiền công kha khá lại càng rạng rỡ.
Sau nhiều ngày cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đội khoan, tôi đã thấu hiểu công việc này. Khi về Sài Gòn, tôi bất ngờ nhận ra sự khác biệt lớn: ở thành phố, độ sâu cần khoan để lấy nước chỉ khoảng 30 mét, thực sự dễ dàng hơn biết bao. Ngày nay, với việc hệ thống cấp nước sạch đô thị đã phủ khắp, giếng khoan không còn là nguồn nước sinh hoạt chính của hầu hết hộ gia đình Sài Gòn. Hiện tại chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất, công nghiệp, tưới tiêu vườn tược hoặc các cơ sở kinh doanh cần nguồn nước lớn, không phụ thuộc vào hệ thống nước máy. Thợ khoan giếng không còn lấm lem dầu nhớt như những người thợ “miệt dưới” và cũng không có những hành trình dài ngày trên sông rạch qua nhiều tỉnh thành. Hơn thế, đã xuất hiện các giàn khoan công nghiệp hiện đại, khoan sâu nhanh chóng, an toàn. Những giếng này thường được gắn bơm chìm với tốc độ lấy nước rất nhanh, và công nhân vận hành thì “thơm tho, không hề dính dầu nhớt!”.
Mặc dù chứng kiến sự hiện đại và dễ dàng đó, không hiểu sao tôi vẫn dành nhiều nỗi nhớ cho những ngày tháng long đong, vất vả cùng đội khoan miền Tây, lặn lội đến từng ấp nhỏ xa xôi.
Nguyễn Thành Công
Bình luận