Tôi là cô gái miền Nam kết duyên cùng chàng trai gốc Thái Bình. Mùa Xuân đầu tiên về quê chồng, điều ấn tượng nhất là cái cổng làng. Giữ chức năng ranh giới giữa các làng quê, cổng làng tồn tại song hành cùng các di sản văn hóa, mang vẻ cổ kính với kiến trúc độc đáo, tạo nên nét đẹp riêng biệt cho mỗi vùng đất.
Những cổng làng, mái đình, cây đa, giếng nước mà tôi chỉ được biết trong truyện hay phim, nay hiển hiện trước mắt thổi vào lòng tôi sức sống của nơi này. Làng to, làng nhỏ đều xem cửa ngõ ấy như một phần máu thịt không thể thiếu. Vì thế, trong dân gian xưa đã có những ví von: “Làng không cổng chẳng khác gì nhà không cửa”, hay “Nhà có nóc, làng có cổng”.

Chồng tôi vừa bước vừa hào hứng kể về làng quê của anh, bao kỷ niệm đẹp với những ngày tết quê bắt đầu trỗi dậy, từ chợ quê đến con đường làng, mảnh vườn rau của mẹ, mái nhà và ngôi từ đường nghi ngút khói hương. Giữa muôn vàn ký ức, cổng làng là điểm nhấn đầu tiên. Biểu tượng tự hào ấy không chỉ tô điểm sức sống văn hóa, mà còn chứng kiến bao cuộc chia ly, hẹn hò, để rồi lại rộng mở đón những người con xa xứ trở về với quê hương.
Anh kể ngày còn nhỏ, cổng làng chỉ đơn giản là hai gốc duối cổ thụ đan vòm vào nhau. Những quả duối chín vàng căng mọng xen lẫn trong lá biếc tỏa hương thơm thoang thoảng, là nơi tụ tập chim chóc và đám trẻ con ríu rít. Về sau, người trong làng đã góp tiền dựng cổng bằng gạch vững chãi, bề thế, có mái uốn vòm cong, chạm trổ đầu rồng bốn góc như đang vươn mình bay lên bầu trời xanh thẳm.
Qua mưa nắng thời gian, cổng làng ngày càng mang vẻ rêu phong, cổ kính. Từ các kẽ nứt trên tường, rủ mềm những bụi cây dương xỉ lòa xòa. Dòng chữ đắp nổi tên làng được sơn màu son đỏ, đôi câu đối bên trụ cổng gởi gắm ước vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yên bình. Ngay cạnh đó là cây gạo cổ thụ, gốc nổi lên những u bướu như lưng lạc đà. Trong sắc Xuân tràn ngập đất trời, hoa gạo lại bung nở rực rỡ. Mỗi lúc gió mạnh ào qua, những bông hoa đỏ thắm lìa cành và rụng êm xuống thảm cỏ ven đường.
Nép bên cổng làng là một cái quán nước nhỏ của bà cụ có khuôn mặt hiền hậu, mái tóc bạc phơ như bà tiên trong truyện cổ tích. Bà bày bán vài thứ đơn sơ: một hũ kẹo vừng giòn tan ủ trong bột nếp, nải chuối tiêu trứng cuốc thơm lừng, tích nước chè xanh nóng hổi, vài thanh quế cay thơm nồng để nhấm nháp những ngày Đông lạnh giá. Khách đi xa, về gần, ghé vào quán bà cụ, chuyện nước chuyện làng cứ râm ran không dứt.
Lối vào làng là những viên gạch xếp nghiêng thấm đẫm mưa phùn loáng ướt, ánh lên màu nâu đỏ. Hàng giậu cúc tần trổ lá xanh non, hàng xoan bên trong bờ giậu nở từng chùm hoa tím xốp nhẹ như bông, rụng rơi trên mái tóc người qua lại, hương hoa bưởi nồng nàn như vây lấn, như bao bọc. Mặt ao bên đường ban ngày loang loáng như gương, đêm về nghe ì ùm tiếng cá quẫy. Cây đa chớm những búp nõn đầu cành hồng hồng nghiêng soi mặt nước giếng trong vắt.
Qua cổng làng, chúng tôi về nhà trong vòng tay mẹ, bên căn bếp ấm áp, vườn rau của mẹ và đón nhận Tết đang hòa quyện trong men nồng của cảnh vật. Tôi cùng mẹ nấu bữa cơm sum vầy theo phong tục miền Bắc, anh uốn tỉa mấy chậu cảnh, chậu hoa ngoài vườn. Chiều ba mươi mẹ nấu nồi nước mùi già ngát thơm cho cả nhà tắm gội tống cựu nghinh tân.
Mùa Xuân đang đến gần, dẫu bây giờ mẹ chồng không còn nữa, nhưng chúng tôi vẫn thu xếp đưa các con về quê. Ký ức chiếc cổng làng như một cuốn phim, cứ tua trở lại, hoài niệm những gì thân thuộc. Một niềm thương, nỗi nhớ - chiếc cổng làng!
Lê Thị Ngọc Nữ
Bình luận