Teilhard de Chardin: Thánh lễ giữa bình minh sa mạc

Linh mục Phêrô Teilhard de Chardin, thuộc Dòng Tên, khóc chào đời ngày 01-5-1881 tại lâu đài Sarcenat, xã Orcines, gần thành phố Clermont-Ferrand, nước Pháp. Linh mục về với Chúa ngày 10-4-1955, trong lúc đang ngụ tại nhà thờ Thánh Ignatius Loyola của Dòng Tên, trên đại lộ Park, thành phố New York, Hoa Kỳ.

Là triết gia lỗi lạc, cũng là nhà địa chất học và cổ sinh vật học danh tiếng, linh mục de Chardin tham gia cuộc khai quật di chỉ hóa thạch người vượn Bắc Kinh (sau gọi tắt là Người Bắc Kinh), khởi sự năm 1923 và kết thúc năm 1941 tại Chu Khẩu Điếm (phía tây nam Bắc Kinh, Trung Quốc).

Teilhard de Chardin
Linh mục Phêrô Teilhard de Chardin

Chẳng những Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI từng ca ngợi linh mục Teilhard de Chardin trong quyển Tinh thần Thánh lễ (Spirit of the Liturgy), mà vừa qua, trong Tông thư Laudato Si’, Chương Hai (Phúc Âm về sự Tạo dựng / The Gospel of Creation), phần III (Huyền nhiệm của Vũ trụ / the Mystery of the Universe), đoạn 83, chú thích 53, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắc tới đóng góp thần học của linh mục Teilhard de Chardin về phương diện nhận thức sâu sắc giá trị thiêng liêng của những thụ tạo mà Thiên Chúa ban cho trái đất này.

Trong Tông thư nói trên, chú thích ấy của Đức Giáo hoàng Phanxicô ngắn gọn, nhưng đủ nhắc nhở chúng ta nhớ tới kiệt tác danh tiếng của linh mục Teilhard de Chardin, chính là bài nguyện cầu có một không hai khi linh mục dâng thánh lễ giữa sa mạc Ordos vừa bừng tỉnh vào một buổi bình minh trong tháng 6 năm 1923.

sa mạc Ordos
Bản đồ sa mạc Ordos

Mùa xuân năm 1923, linh mục Teilhard de Chardin lần đầu tiên sang Trung Quốc. Trước hết, linh mục rời tàu thủy, đặt chân lên cảng Thượng Hải; rồi đáp xe lửa tới Thiên Tân, một thành phố ven biển cách Bắc Kinh khoảng 113,8 km theo đường chim bay, để gặp linh mục Emile Licent (1876-1952), cũng thuộc Dòng Tên, và là nhà tự nhiên học (naturalist, natural historian) danh tiếng. Tại Thiên Tân, linh mục Licent có lập một bảo tàng lưu giữ những vật hóa thạch đã tìm thấy tại Trung Quốc từ khi đến lục địa này vào năm 1914. Người Trung Quốc gọi linh mục Licent là Tang Chí Hoa (Sâng Zhìhuá), và gọi linh mục de Chardin là Đức Nhật Tiến (Dérìjìn). Cả hai vị đều là hai nhà khoa học lỗi lạc, đã mau chóng có được mối quan hệ bền vững trong công việc.

Vào tháng 6 năm 1923, linh mục Teilhard de Chardin thám hiểm sa mạc Ordos, nằm về phía tây Bắc Kinh, trên một cao nguyên ở phía nam khu tự trị Nội Mông hiện nay. Trải rộng khoảng 90.650 cây số vuông, sa mạc Ordos còn có tên là Mu Us, hay Ngạc Nhĩ Đa Tư.

Đất ở Ordos là một hỗn hợp gồm đất sét, cát, bất lợi cho nông nghiệp. Linh mục de Chardin đi vào sa mạc này vào mùa hè, khí hậu quá gay gắt và điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt. Cuộc hành trình gian khổ đó của nhà khoa học đã là nhân duyên để kho tàng văn học về huyền nhiệm tâm linh của nhân loại được lưu giữ cho tới hôm nay và mai sau một áng văn trác tuyệt.

cao nguyên Mông Cổ năm 1924
Teilhard de Chardin trên cao nguyên Mông Cổ năm 1924

Sáng tinh mơ hôm ấy, linh mục nhận ra mình đang lẻ loi giữa bao la sa mạc hoang vu trong ánh triêu dương đang bừng tỏa từ cuối chân trời xa xăm. Một màu vàng cam nhuộm khắp càn khôn thế giới. Đẹp quá! Huy hoàng quá! Thiên nhiên rực rỡ này Thiên Chúa đã ban trao cho con người và vạn loại. Lòng ngập tràn nỗi xúc động thiêng liêng khi cảm thụ trọn vẹn lẽ huyền nhiệm của Thiên Chúa hiện hữu giữa đất trời, ngay tức khắc, đúng vào lúc xuất thần đó, linh mục de Chardin muốn cử hành một thánh lễ đầu ngày. Nhưng, giữa sa mạc Ordos, thấy mình chẳng có bàn thờ, chẳng mẩu bánh thánh, chẳng giọt rượu lễ, linh mục de Chardin bèn lấy cả trái đất làm bàn thờ, lấy hết thảy vạn vật chúng sanh đau thương và hạnh phúc trên trái đất để làm bánh và rượu cho thánh lễ. Sau đây là lời cầu nguyện trong thánh lễ hy hữu ấy:

Lạy Chúa, vì con không có bánh, không có rượu, cung không có bàn thờ, nên con sẽ nâng con vượt lên khỏi những thứ tượng trưng này; con xin lấy trọn vẹn trái đất làm bàn thờ và trên đó, con sẽ dâng lên Chúa tất cả mọi nhọc nhằn cùng những nỗi đau khổ của thế gian.

Khi ánh triêu dương ló dạng, dịch chuyển như một màn lửa băng qua chân trời, thì trái đất tỉnh giấc, rùng mình và bắt đầu những công việc hàng ngày của trái đất. Lạy Chúa, con sẽ đặt trên dĩa của con những gì gặt hái được bằng sức cần lao mới vừa phục hồi này. Con sẽ rót vào chén tất cả nhựa sống được ép ra từ hoa quả của trái đất trong ngày hôm nay.Dĩa và chén của con là những chiều sâu thẳm tâm hồn đang được phơi bày rộng mở ra cho tất cả các sức mạnh sẽ trỗi dậy trong khoảnh khắc nữa từ mọi ngóc ngách của trái đất và đồng quy về Thần Khí.

Lạy Chúa, xin ban ơn cho con nhớ tới và hiện tại hóa một cách huyền nhiệm tất cả những ai vào lúc này đang được ánh triêu dương đánh thức để đón chào ngày mới. Khi con gợi lại những điều này trong tâm trí, trước tiên con nhớ đến những người đã chia sẻ cuộc sống với con, đó là gia đình, cộng đoàn, bạn bè, và đồng sự.Thế rồi mơ hồ hơn nhưng hoàn toàn đầy đủ, con cũng nhớ đến toàn thể nhân loại, đang sống và đã chết, mà đặc biệt là chính trái đất hữu hình này, lạy Chúa, khi con đứng trước Chúa, thì con là một mẩu nhỏ của trái đất (...).

Và như thế, lạy Chúa, trước mọi sự sống trong ngày hôm nay sắp nảy nở, lớn lên, trổ hoa, đỏ chín, con xin lặp lại những lời này: “Đây là mình Ta”. Và trước mọi thế lực chết chóc đang chực chờ sẵn sàng để gặm mòn, để tàn héo, để đoạn lìa, con xin lặp lại lời Chúa diễn bày huyền nhiệm tối thượng của đức tin: “Đây là máu Ta”. Trên dĩa của con, con xin dâng tất cả những ai sẽ sống tràn trề sinh lực trong ngày hôm nay, người trẻ trung, người mạnh khỏe, người dào dạt mừng vui; và trong chén của con, con xin dâng tất cả những gì trong ngày hôm nay sẽ bị nghiền nát và tan vỡ khi sinh lực rút ra khỏi sự sống. Trên bàn thờ đang dung chứa muôn loài vạn vật này, con xin dâng lên Chúa mọi sự trên trần gian chúng con, mọi sự đang trỗi dậy và mọi sự đang chết đi, và xin Chúa ban ơn lành cho tất cả.

Và sự hiệp thông của chúng con với Chúa sẽ không được trọn vẹn, sẽ không đúng nghĩa Kitô, nếu như cùng với những thu hoạch mà ngày mới này mang lại, chúng con nhân danh chúng con và thế giới, không chấp nhận những tiến trình ẩn tàng hay hiển bày vốn dĩ đang làm cho vạn vật suy yếu, già cỗi và chết đi. Không ngừng đốt cháy vũ trụ, những tiến trình ấy hướng đến ơn cứu độ và phán xét vũ trụ. Lạy Chúa, (…) chúng con tin tưởng vô điều kiện rằng những cái tôi hẹp hòi của chúng con sẽ được thay thế bằng sự hiện diện thiêng liêng của Chúa. Chúng con xin hợp nhau thành một lời nguyện cầu duy nhất, vừa mừng vui với những gì chúng con đang có và vừa khao khát những gì chúng con còn thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin nhốt kín chúng con vào những chiều sâu thẳm nhất trong tim Chúa, thế rồi khi giữ chúng con trong đó, xin hãy đốt cháy chúng con, thanh tẩy chúng con, hãy đặt chúng con trên lửa, tôi luyện chúng con, cho đến khi chúng con hoàn toàn trở nên đúng như Chúa muốn, bằng cách triệt tiêu mọi ích kỷ bên trong chúng con. Amen. (1)

Huệ Khải

____________________________

1. Bản chuyển ngữ trên đây căn cứ thao bản tiếng Anh (không ghi tên dịch giả) , đăng tại địa chỉ:

http://ronrolheiser.com/a-eucharistic-prayer-over-an-awakening-world/#.VdEwCvntlHw

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Nhớ vị giò bê
Nhớ vị giò bê
Với tôi, ký ức về món giò bê (còn gọi là giò me) luôn gắn liền với những ngày cuối năm rộn ràng nơi quê nhà Nghệ An. Cứ tầm 27, 28 Tết, khi cái lạnh se sắt bắt đầu bủa vây, cả nhà lại cùng nhau chuẩn bị món...
Gành Hào có một mùa Xuân đẹp hơn mai vàng
Gành Hào có một mùa Xuân đẹp hơn mai vàng
Nhà thờ Gành Hào ở cửa ngõ đường ra biển, nơi những cánh quạt điện gió trắng muốt xoay chậm rãi như một biểu tượng mới của vùng đất này. Đây cũng là nơi chốn từng đi vào âm nhạc qua bản “Đêm Gành Hào nghe dạ cổ hoài lang”...
Những kẻ lãng mạn vô vọng
Những kẻ lãng mạn vô vọng
Thời nay, xu hướng lười yêu, lười kết hôn đã không còn xa lạ, mặc dù chính phủ các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc… đã cố gắng khuyến khích giới trẻ kết hôn, sinh con...
Nhớ vị giò bê
Nhớ vị giò bê
Với tôi, ký ức về món giò bê (còn gọi là giò me) luôn gắn liền với những ngày cuối năm rộn ràng nơi quê nhà Nghệ An. Cứ tầm 27, 28 Tết, khi cái lạnh se sắt bắt đầu bủa vây, cả nhà lại cùng nhau chuẩn bị món...
Gành Hào có một mùa Xuân đẹp hơn mai vàng
Gành Hào có một mùa Xuân đẹp hơn mai vàng
Nhà thờ Gành Hào ở cửa ngõ đường ra biển, nơi những cánh quạt điện gió trắng muốt xoay chậm rãi như một biểu tượng mới của vùng đất này. Đây cũng là nơi chốn từng đi vào âm nhạc qua bản “Đêm Gành Hào nghe dạ cổ hoài lang”...
Những kẻ lãng mạn vô vọng
Những kẻ lãng mạn vô vọng
Thời nay, xu hướng lười yêu, lười kết hôn đã không còn xa lạ, mặc dù chính phủ các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc… đã cố gắng khuyến khích giới trẻ kết hôn, sinh con...
Những cái tết của trẻ nghèo ngày xưa
Những cái tết của trẻ nghèo ngày xưa
Gọi là “ngày xưa” nhưng thực ra cũng chẳng xa lắm, quãng cuối thập niên 1970. Ở một thị trấn nhỏ miền Tây thuở ấy, có con hẻm nắng bụi mưa bùn dẫn vào xóm không tên gần Ao Đình.
Bánh phồng của Ngoại
Bánh phồng của Ngoại
Cách đây đã lâu, hồi học lớp 9, cũng vào độ se se lạnh của tiết trời cuối năm, bạn thân rủ tôi về thăm ngoại nó ở Phước Trường, gần Phó Sinh bên kênh Quản Lộ Phụng Hiệp.
Sắc Tết nhen lên cùng nắng Xuân
Sắc Tết nhen lên cùng nắng Xuân
Nhiều chốn rẻo cao mây mù giăng lối, giá rét co ro. Nhưng ở miệt này, vùng đồng bằng sông Cửu Long đậm đặc chất nhiệt đới gió mùa, Xuân về với cái lạnh se nhẹ và nắng ấm áp. Sự giao thoa này thật tuyệt vời với bà con...
Dĩa chè kho mang vị Tết
Dĩa chè kho mang vị Tết
Trong cái rét ngọt của những ngày giáp Tết miền Bắc, giữa muôn vàn món ngon, thật khó lòng bỏ qua đĩa chè kho vàng mịn. Người vùng khác thường không khỏi ngạc nhiên khi lần đầu thấy món này, bởi dù gọi là “chè” nhưng lại được trình bày...
Vẻ đẹp lục bình
Vẻ đẹp lục bình
Miền Tây, xứ sở phù sa chằng chịt sông rạch như bàn cờ, mạn nước ngọt lưu vực sông Tiền sông Hậu, mặt nước luôn dập dờn sắc lục bình xanh; khi thì lác đác trôi, lúc lại ken dày đến mức khiến ghe xuồng cũng phải bối rối.
Năm Bính Ngọ, nói về ngựa ở quê nhà
Năm Bính Ngọ, nói về ngựa ở quê nhà
Thời ngựa xe ở xứ mình đã lùi xa từ lâu trước đà cơ giới hóa với xe máy, ô tô tràn ngập. Hình ảnh ngựa chiến trong các đội kỵ binh dũng mãnh, các cỗ xe tứ mã của triều đình, ngựa trạm giữ liên lạc... chỉ còn hiện...