Công giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc

Ngoài hai cách phân chia kể trên thì làng xã truyền thống còn tồn tại các phe, nhóm, phường, hội…, những tổ chức quy tụ một bộ phận dân làng dựa trên các điểm chung về nền tảng kinh tế, nghề nghiệp, sở thích, cụm dân Bỏ qua những khác biệt về động lực liên kết, thì những tổ chức này có vai trò tương đương với hội đoàn Công giáo trong cấu trúc dân cư của xứ đạo.

Picture1.jpg (47 KB)

Theo tổ chức cộng đồng thì làng (xã) có hai cách phân chia, một là theo thôn (xóm, ấp), hai là theo giáp. Cách phân chia theo thôn (xóm, ấp) hoàn toàn dựa trên khu vực cư trú, không kể già trẻ gái trai, và không có hệ thống quản lý riêng (mô hình tập quyền). Còn cách phân chia theo giáp lại chỉ tính nam giới trong các cụm dân cư, nghĩa là chỉ có ba hạng lão, đinh, ấu. Giáp có hệ thống quản lý riêng với người, đứng đầu là cai giáp (câu đương), hoạt động dưới quyền lý trưởng (mô hình phân quyền). Giúp việc cho cai giáp là các ông lềnh (từ chữ “lệnh” mà ra). Mục đích của việc tổ chức theo giáp là để kiểm soát hiệu quả nguồn nhân lực của làng mà trai đinh là đối tượng chính yếu. Cách phân chia này có lẽ đã hình thành muộn hơn, khi làng xã trở nên đông đúc và kỳ dịch không đủ sức kiểm soát tất cả những người có tên trong sổ đinh, nếu không có sự trợ giúp của cấp quản lý nhỏ hơn.

Hội đồng mục vụ hiện nay có thể hoạt động theo một trong hai mô hình tập quyền hoặc phân quyền, tùy theo diện tích của từng xứ đạo, chứ không thống nhất trên toàn quốc. Tuy nhiên, tiến trình chuyển đổi của hai mô hình này có lẽ đã diễn ra ngược lại với quá trình đi từ thôn đến giáp của làng xã truyền thống. Thuở ban đầu, khi các giáo xứ còn có diện tích rộng lớn với nhiều giáo họ khác nhau thì mỗi giáo họ đều có ít nhất một ông trùm (quý chức), những người này sẽ họp thành hội đồng mục vụ dưới sự điều hành của một chủ tịch (chánh trương) được bầu ra. Nghĩa là, do điều kiện đặc thù mà ban đầu hội đồng mục vụ chỉ được tổ chức theo mô hình phân quyền. Về sau này, khi có giáo họ tách ra thành họ đạo độc lập, hoặc có giáo xứ di dân mới thành hình trong môi trường đô thị với diện tích nhỏ, thì mô hình phân quyền theo kiểu thôn (xóm, ấp) đã không còn phù hợp. Lúc này, hội đồng mục vụ được tổ chức theo mô hình tập quyền với: chủ tịch, phó nội vụ, phó ngoại vụ, thư ký, thủ quỹ và các ủy viên. Theo mô hình này, tuy giáo xứ/ họ đạo vẫn được chia thành các giáo khu, nhưng sẽ không có trùm khu hay quý chức phụ trách. Hội đồng mục vụ, trong trường hợp này sẽ được phân công theo từng nhiệm vụ cụ thể.

Dẫu theo cách tổ chức và phân công như thế nào thì hội đồng mục vụ cũng có nhiều điểm tương đồng với quan viên làng xã như đã phân tích ở trên, được tổng hợp trong sơ đồ sau:

2.3 Những liên kết nuôi dưỡng văn hóa làng xã nơi giáo xứ, họ đạo

Nhà xã hội học Peter Berger nhận định rằng: “Tính hiện đại liên quan đến sự suy yếu dần dần, nếu không nói là sự tan rã, của những cộng đồng cố kết”. Rõ ràng, lối sống hiện đại và quá trình đô thị hóa đã xóa mờ nhiều cộng đồng truyền thống ở Việt Nam, thay thế bằng những tập thể có liên kết yếu và rời rạc hơn, với những cái tên: khu đô thị, tổ dân phố, chung cư… Trong khi đó, các cộng đồng giáo xứ, họ đạo không chỉ tồn tại vững chắc mà còn bảo lưu cấu trúc và văn hóa làng xã bằng những sinh hoạt tôn giáo - hội đặc thù. Vậy, những liên kết nào đã duy trì cộng đồng Công giáo Việt Nam, chống lại tiến trình phân dưới ảnh hưởng của xã hội hiện đại?

Trước tiên, liên kết quan trọng nhất và cũng cơ bản nhất là liên kết tôn giáo. Ngay từ buổi sơ khai, các giáo xứ, họ đạo đã hình thành dựa trên liên kết này. Lúc ấy, bất phân giai cấp, giới tính, độ tuổi, tất cả các giáo dân bị làng xóm xa lánh đã họp lại quần cư với cùng một đời sống tâm linh khác biệt. Khi bị triều đình phong kiến bách hại, các xóm đạo tan rồi lại hợp cũng nhờ một niềm tin thống nhất. Trong bối cảnh hiện đại, liên kết tôn giáo tiếp tục giữ gìn cộng đoàn dân Chúa thông qua các thánh lễ hàng tuần, các lễ hội truyền thống gắn liền với đời sống tâm linh như Giáng Sinh, Phục Sinh, tháng hoa kính Đức Mẹ..., các dịp lễ lớn của dân tộc được tiếp thu, cử hành theo nghi thức Công giáo như lễ cầu bình an năm mới (mùng 1 Tết), lễ cầu cho ông bà tổ tiên (mùng 2 Tết), lễ thánh hóa công ăn việc làm (lễ cầu mùa, mùng 3 Tết), lễ cầu cho thiếu nhi (Trung Thu)Bên cạnh đó, nhiều giáo xứ, họ đạo đã tận dụng internet để xây dựng những kênh truyền thông riêng, giúp cho các thông tin về chương trình mục vụ, giờ lễ, giờ chầu, giờ giải tội thể tiếp cận một cách thuận tiện. Việc làm này không chỉ giúp các giáo dân trong xứ dễ dàng nắm bắt thông tin, còn tạo điều kiện cho các tín hữu từ nơi khác đến có thể theo dõi và hòa nhập vào sinh hoạt chung của cộng đoàn dân Chúa. Nghĩa là, trong bối cảnh hiện nay, ngay cả khi một người đi thật xa khỏi quê hương bản quán, thì vẫn có thể tham gia vào các sinh hoạt và trở thành một phần của cộng đồng Công giáo tại nơi ở mới.

Liên kết tiếp theo cũng không kém phần quan trọng và bền chắc, đó liên kết về nguồn gốc dân . Đây cũng là một liên kết kể từ những ngày đầu tiên của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Ban đầu, các hộ gia đình Công giáo sống quây quần với nhau thành xóm đạo, chọn ra một nhà dân làm nơi đọc kinh chung và để các thừa sai dâng lễ vào những dịp thuận tiện. Rồi số tín hữu tăng lên, điều kiện kinh tế cũng khá hơn, họ cùng nhau xây cất một ngôi nhà thờ và xem công trình ấy như trung tâm sinh hoạt cộng đồng, bất kể việc có linh mục coi sóc hay không. Chính từ thời điểm đó, “làng Công giáo” đã ra đời với tên gọi “giáo xứ”, quy tụ tất cả những tín hữu có chung niềm tin và sinh sống trong một vùng nhất định. Tuy khác biệt về đời sống tâm linh so với lương dân, những làng Công giáo này cũng có đình (nhà thờ) và hội đồng kỳ mục (hội đồng mục vụ) như đã phân tích trong các kỳ trước. Sau nhiều lần phân tách do sự gia tăng dân số, các làng mới nhỏ hơn vẫn giữ nguyên mô hình vận hành của làng lớn trước đây, nhưng quy tụ những cư dân sống gần nhau hơn. Lâu dần, sự quần cư và các sinh hoạt chung đã tạo điều kiện cho một dạng tâm thức tương tự như tình đồng hương hình thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Tâm thức đó và tình cảm giữa những người đồng đạo đã tạo nên liên kết về nguồn gốc dân cư.

(còn nữa)

KỲ PHONG

 

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Các xã Hòa Hội, Hòa Bình, Hòa Hưng thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nhập thành xã Hòa Hội thuộc TPHCM. 
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Những ngày cuối năm, nhiều nhà thờ khoác lên mình diện mạo mới với hoa và ánh sáng rực rỡ. Không gian các xứ đạo càng thêm rộn ràng, tràn ngập sắc Xuân. 
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Các xã Hòa Hội, Hòa Bình, Hòa Hưng thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nhập thành xã Hòa Hội thuộc TPHCM. 
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Những ngày cuối năm, nhiều nhà thờ khoác lên mình diện mạo mới với hoa và ánh sáng rực rỡ. Không gian các xứ đạo càng thêm rộn ràng, tràn ngập sắc Xuân. 
Cuốn sách dạy tôi cách “thương” những lần mình thất thế
Cuốn sách dạy tôi cách “thương” những lần mình thất thế
Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều thứ Bảy chưa xa, thành phố đón một cơn mưa bất chợt và dai dẳng. Để tránh mưa, tôi tấp vội xe vào một hiệu sách cũ nằm khuất trong con hẻm nhỏ.
Một bài thơ cuối năm chúc lành cho năm mới
Một bài thơ cuối năm chúc lành cho năm mới
Sinh ở đảo quốc Haiti (thuộc vùng biển Caribe), Hebert Logerie sang Mỹ định cư khi đang tuổi thiếu niên, sau đó tốt nghiệp đại học Rutgers (New Jersey). Từ khi còn rất trẻ, Logerie đã sớm sáng tác bằng tiếng Pháp (ký tên Hébert Logerie) và tiếng Anh (ký...
Tản mạn cà phê và người lính
Tản mạn cà phê và người lính
Có một thời, thập niên 1990, đi ngang các quán cà phê phía Bà Chiểu hay Bà Quẹo, thường nghe vẳng ra mấy câu hát “Mình, ba đứa hôm nay gặp nhau, nâng ly cà phê, với mùi hương ngạt ngào…”; hoặc “Cho tách cà phê, cô nàng xanh tóc/...
Sự trở lại ngoạn mục của loài ngựa hoang dã cuối cùng
Sự trở lại ngoạn mục của loài ngựa hoang dã cuối cùng
Suốt nhiều thế kỷ, loài ngựa hoang Przewalski luôn đóng một vai trò trong truyền thống văn hóa Mông Cổ, nơi chúng là tượng trưng cho sự tự do của miền thảo nguyên bát ngát và sức sống bền bỉ.
Di chỉ lạ về các chiến mã cách đây gần  2.000 năm
Di chỉ lạ về các chiến mã cách đây gần 2.000 năm
Các chuyên gia tại Ðức đã khai quật một “nghĩa địa” quy mô lớn dành cho loài ngựa có từ thời La Mã, trong một phát hiện được giới nghiên cứu đánh giá là “vô cùng hiếm”.
Vui xuân nơi xứ đạo
Vui xuân nơi xứ đạo
Trước, trong và sau Tết cổ truyền, ở các giáo xứ đều có tổ chức đa dạng nhiều hoạt động vui Xuân. Thiếu nhi được tham gia nhiều trò chơi vận động, vui chơi, mang lại tiếng cười, niềm vui năm mới.