7. Hôn nhân của người Công giáo Việt Nam
Ở Việt Nam thời phong kiến, khi chưa có sổ hộ tịch, thì giá trị của một cuộc hôn nhân chủ yếu dựa trên sự công nhận của họ hàng và làng xã. Cộng đồng làng xã khi ấy đóng vai trò như một thiết chế sơ khai, đảm bảo mối liên hệ bền chặt giữa hai người, hai dòng họ. Từ giai đoạn cận đại, khi hệ thống hành chính phát triển, có thủ tục đăng ký kết hôn, thì hôn nhân mới bắt đầu được ràng buộc, công nhận và bảo vệ bởi luật pháp. Riêng với người Công giáo, hôn nhân từ xưa đến nay luôn cần đến sự chuẩn nhận của Giáo hội thông qua việc cử hành Bí tích Hôn phối. Vì thế, một cuộc hôn nhân Công giáo giờ đây cần đảm bảo các tiêu chuẩn của cộng đồng, pháp luật và giáo luật. Trong khi pháp luật gắn liền với các thủ tục hành chính thì tiêu chuẩn cộng đồng và giáo luật đã tác động qua lại để tạo nên một dạng thức song hành giữa truyền thống Việt Nam và văn hóa Công giáo. Nhằm làm rõ sự song hành ấy, bài viết này sẽ phân tích và so sánh phong tục cưới hỏi của người Việt xưa với người Công giáo hiện nay. Qua đó, tiến hành nhận diện những giá trị văn hóa được kế thừa và biến đổi trong tiến trình hội nhập.

7.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn bạn đời
Đối với người Việt xưa, hôn nhân không phải là việc riêng của hai cá nhân, mà là chuyện chung của cả dòng tộc, làng xã. Dưới tác động của một nền văn hóa nông nghiệp truyền thống, lợi ích của tộc họ được đặt lên trước nhất, thứ đến là làng xã, và cuối cùng mới là quyền lợi của đôi tân hôn. Chính vì thế, khi chọn vợ gả chồng cho con cái, cha mẹ thường ưu tiên những gia đình tương xứng về tầng lớp, học vấn và điều kiện kinh tế, để khi kết thông gia, vừa có thể hỗ trợ nhau thăng tiến, vừa được tiếng là “môn đăng hộ đối”. Nếu hai gia đình định cư ở hai làng khác nhau thì cha mẹ phải cân nhắc thêm các tác động của làng xã đến hôn sự. Bởi vì nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước đề cao sự ổn định của làng xã để bảo tồn sức lao động, nên việc gả con gái sang làng khác sẽ phải chịu rất nhiều ngăn trở.
Cùng với sự thay đổi của xã hội, người Việt ngày nay đã vượt ra khỏi biên giới làng xã, làm việc, học tập và sinh sống khắp nơi, nên chuyện kết hôn với người khác quê, thậm chí khác quốc gia, không còn xa lạ. Thế nhưng, trong đời sống Công giáo, việc kết hôn với người khác đạo vẫn là điều khiến bậc phụ huynh phải băn khoăn. Nhiều cha mẹ sợ con mình khi lập gia đình với người không cùng đức tin sẽ gặp khó khăn trong việc sống đạo và nuôi dạy con cái theo giáo huấn Hội Thánh. Giáo luật có quy định cho phép hôn nhân hỗn hợp hoặc hôn nhân khác đạo, nhưng đòi hỏi sự chuẩn thuận của Giáo quyền và những cam kết rõ ràng về đời sống đức tin. Cuối cùng, sự hòa hợp của đôi bạn trẻ mới được xem xét một cách ước lệ, dựa trên việc xem tử vi, cung mệnh, tuổi tác…
Bên cạnh đó, người Việt xưa thường kết hôn rất sớm, nhiều khi chỉ mới 13-14 tuổi, chưa đủ khả năng nhận thức để quyết định một việc trọng đại như hôn nhân. Thành ra, từ việc chọn bạn đời cho đến việc chuẩn bị sính lễ, tiến hành các nghi thức hôn phối… đều cần đến sự sắp đặt, hướng dẫn của cha mẹ. Bởi vậy mà ngày xưa “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”. Tuy vậy, không có nghĩa là tình yêu không tồn tại trong hôn nhân truyền thống Việt Nam trong ngày cũ. Mà trái lại, tình yêu vẫn thường hiện diện và nuôi dưỡng một đời sống tình cảm phong phú, từ đó sản sinh ra những câu hò, điệu lý, ca dao… chan chứa tình nghĩa vợ chồng. Đối với tầng lớp bình dân, ít bị chi phối bởi lề thói phong kiến hơn, thì việc người con trai và người con gái yêu nhau rồi về xin cha mẹ hỏi cưới thường dễ xảy ra hơn. Lúc người mai mối đại diện nhà trai đến hỏi cưới thì câu trả lời “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” của người con gái là một lời chấp thuận thật phải phép. Có khi, người con gái đã muốn xuất giá rồi mà mãi người con trai chưa thưa với mẹ cha, thì người con gái phải dặn rằng: “Anh về thưa với mẹ cha/ May chăn cho rộng để mà đắp chung/ Sập, bình phong, chăn bông, chiếu miến/ Trong thì lụa xuyến, ngoài miến the đôi/ Chẳng đâu hơn nữa, anh ơi” (Ca dao).
Đối với Giáo hội Công giáo thì hôn nhân là việc của cá nhân, được xây dựng trên nền tảng bình đẳng giữa người nam và người nữ. Chính vì thế mà người Công giáo nói chung thường tự do trong việc lựa chọn bạn đời. Và để chuẩn bị cho những người trẻ đủ kiến thức và nhận thức trước khi bước vào đời sống hôn nhân, Giáo hội đã có những bài giảng giáo lý, luân lý, những chia sẻ gần gũi về Thành Gia, và nhất là có hẳn một khóa giáo lý riêng trước khi chấp nhận ban bí tích Hôn phối. Thực tế thì, do tác động của đời sống văn hóa truyền thống, nhiều phụ huynh Công giáo ngày nay vẫn còn can thiệp vào hôn sự của con cái. Công bằng mà nói, sự can thiệp dù đôi khi có quá đáng nhưng phần lớn là đều xuất phát từ tình yêu thương của người làm cha mẹ.
Một ảnh hưởng khác của truyền thống vẫn còn lưu dấu trong cộng đoàn Công giáo là thái độ dè dặt với việc cưới người từng ly hôn. Nhưng nguyên do của sự dè dặt này không giống với quan niệm dân gian. Người Việt xưa vốn tránh cho con trai cưới phụ nữ góa hoặc đã bỏ chồng, vì cho rằng điều đó có thể làm tổn hại đến thanh danh và vận khí của gia đình. Còn đối với người Công giáo, sự dè dặt ấy lại bắt nguồn từ tính bất khả phân ly của Bí tích Hôn phối: một khi hôn nhân đã thành sự, chỉ cái chết mới có thể chấm dứt giao ước ấy.
(còn nữa)
KỲ PHONG
Bình luận