7.2 Phong tục cưới hỏi
Thời phong kiến, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, nhiều gia đình có địa vị đã cử hành lễ cưới theo Văn Công Gia Lễ của Chu Hi (1130-1200), gồm sáu nghi thức: nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tệ và thân nghinh. Mỗi bước là một giai đoạn trong tiến trình gắn kết, từ chọn lựa đến chính thức đón dâu về nhà chồng. Cụ thể như sau:
- Nạp thái: nhà trai mang lễ vật đến nhà gái để ngỏ ý muốn kén con gái họ làm vợ con trai mình.
- Vấn danh: nhà trai hỏi tên và ngày sinh tháng đẻ của cô gái để xem tuổi hai bên có hợp nhau không.
- Nạp cát: nhà trai báo cho nhà gái biết đã xem bói được quẻ tốt.
- Thỉnh kỳ: chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ cưới.
- Nạp tệ: nhà trai mang sinh lễ sang nhà gái.
- Thân nghinh: rước dâu, làm đám cưới.
Ngày nay, ở Việt Nam cũng còn gia đình cử hành đủ cả sáu lễ này, nhưng nhìn chung thì suốt chiều dài lịch sử, tầng lớp bình dân đã tinh gọn, kết hợp các nghi thức trên với phong tục tập quán bản địa để tạo thành ba lễ chính là: chạm ngõ, hỏi và cưới.
Lễ Chạm ngõ (còn gọi là lễ dạm ngõ hay đám nói, đám “coi mắt”) được xem là bước mở đầu trong tiến trình hôn nhân. Trong lễ này, nhà trai mang trầu cau, rượu, trà đến nhà gái để đặt vấn đề cho đôi trẻ được chính thức tìm hiểu nhau. Sau khi thắp nhang báo với tổ tiên, nhà gái sẽ đem lễ vật đi chia cho họ hàng, mỗi người một ít. Về hình thức, lễ chạm ngõ có thể coi là tương đương với Nạp thái trong Văn Công Gia Lễ, song trình tự so với ba lễ Nạp thái, Vấn danh và Nạp cát thì đã đảo ngược: người mai mối thường đã hỏi tên họ, ngày sinh của cô gái từ trước, rồi khi nhà trai thấy xứng hợp thì mới mang lễ vật sang làm lễ chạm ngõ. Sau lễ này, hai bên gia đình đã bắt đầu thiết lập quan hệ giao hảo. Vào ngày mùng 5 Tết hoặc các ngày giỗ của nhà gái, nhà trai thường có quà biếu.
Lễ Hỏi: Từ lúc Chạm ngõ đến lúc ăn hỏi thường không có thời hạn nhất định. Nếu đôi trai gái trong thời gian tìm hiểu thấy không hợp, hoặc hai bên gia đình không muốn kết thông gia nữa thì “cơi trầu Chạm ngõ là trầu bỏ đi”. Còn nếu đã quyết định tiến tới hôn nhân, nhà trai sẽ mang lễ vật sang nhà gái để làm lễ Hỏi. Trong lễ này, nhà trai cũng mang lễ vật sang để nhà gái làm lễ Cáo gia tiên, tương tự như lúc Chạm ngõ. Lễ vật thường do nhà gái quyết định, chủ yếu là những món quà bánh đơn giản cùng trầu cau. Sau đó, hai bên gia đình sẽ thống nhất ngày giờ làm lễ cưới, sính lễ mà nhà trai phải chuẩn bị, cùng các vấn đề khác liên quan đến đám cưới. Từ đây, đôi trai gái xem như đã chắc chắn sẽ cưới nhau, chỉ còn chờ ngày thành hôn. Như vậy, lễ Hỏi có thể xem là tương đương với Thỉnh kỳ trong Văn Công Gia Lễ. Tuy nhiên, thuở xưa cũng có những trường hợp đặc biệt: đôi trai gái còn nhỏ tuổi nhưng nhà trai sợ nhà gái gả con cho người khác nên làm lễ Hỏi sớm để “giữ phần”, rồi nhiều năm sau mới chọn ngày cưới. Thành ra, có khi lễ Hỏi đã xong mà ngày cưới vẫn chưa định. Ngày nay, khi trai gái được tự do tìm hiểu và yêu đương, người Việt thường bỏ lễ Chạm ngõ, vì nghi thức này không còn mấy ý nghĩa. Nhiều nơi còn gộp lễ Hỏi và lễ Cưới vào cùng một ngày. Với người Công giáo Việt Nam hiện nay, sự tinh gọn này cũng khá phổ biến, vì ngoài ba lễ Chạm ngõ - Hỏi - Cưới, họ còn có Thánh lễ Hôn phối, một nghi thức đặc biệt và cần được chuẩn bị chu đáo hơn.
Lễ Cưới: là nghi thức quan trọng nhất, đánh dấu việc đôi trai gái chính thức trở thành vợ chồng. Ngoài Nạp tệ và Thân nghinh thì lễ Cưới của người Việt xưa còn có lệ nộp Cheo, lễ Tế tơ hồng, Gia tiên và Lại mặt.
Lệ Nộp cheo xuất phát từ thời xa xưa, khi làng xã nắm quyền quản lý và xác nhận mọi việc hôn sự. Khi đôi trai gái quyết định kết hôn, nhà trai phải nộp cho làng bên nhà gái một khoản tiền hoặc hiện vật, gọi là cheo. Ngày xưa không có sổ hộ khẩu, không có giấy đăng ký kết hôn, nên hôn sự có thành hay không chỉ dựa vào sự công nhận của làng xã. Làng nhận cheo rồi thì sẽ biên giấy đề 2 chữ “lan nhai”. Trong đó, “lan” nghĩa là ngăn trở, “nhai” là đường đi. Mà sự đồng thuận phải đến từ tất cả quan viên làng xã nên lễ Nộp cheo thường có thêm trầu cau để chia biếu (tục gọi là trầu cheo). Với những làng đông dân thì có khi phải chuẩn bị tới cả trăm miếng trầu để mang đến từng nhà một. Nếu lỡ sau này tất cả những người đã ăn trầu cheo đều đã khuất núi thì con cháu họ cũng biết chuyện để mà làm chứng là đôi tân hôn ngày đó đã cưới nhau dưới sự đồng thuận của làng xã. Trong trường hợp do một ngăn trở nào đó mà làng xã không nhận cheo thì đám cưới coi như không thành, tục gọi là “không hạ cheo”.
Vào năm Cảnh Trị nguyên niên (1663), thời vua Lê Huyền Tông, triều đình có ban hành 47 điều giáo hóa, trong đó điều thứ 44 chép rằng: “Bất cứ cùng một làng hay khác làng đều cho phép thu cheo một quan tiền và một vò rượu. Quan viên và binh linh ở xã thôn nhà gái không được viện cớ người ta lấy chồng khác làng mà đòi tiền cheo quá lạm và tiền tiễn tống”. Phép vua là vậy nhưng lệ làng thường vẫn thu cheo của người lấy chồng làng khác (cheo ngoại) cao hơn cùng làng (cheo nội). Đây vừa là một ví dụ của việc “phép vua thua lệ làng”, vừa là một biểu hiện của tính tự quản, tự bảo vệ cấu trúc dân cư của làng xã.
Đến thời Pháp thuộc, lệ nộp cheo dần bị bãi bỏ vì đã có sổ hộ tịch và luật hôn nhân. Đồng thời, các làng cũng không được phép tự thu và giữ công quỹ nữa mà phải gởi vào ngân khố tỉnh. Dầu vậy, ở nông thôn người ta vẫn giữ lệ mang trầu cheo đến biếu quan viên như một hình thức xin phép và thăm dò ý kiến của dư luận trong làng xã. Mãi sau này, tục nộp cheo mới hoàn toàn bị thay thế bằng thủ tục đăng ký kết hôn.
Rao hôn phối: Lệ này trước tiên xuất phát từ quy định trong Giáo luật. Gần nhất là Giáo luật 1983, ở điều 1067 viết: “Hội đồng Giám mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khác để thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn”. Nhưng đồng thời, cũng là một dạng thức dò hỏi thông tin trong làng xã, hỗ trợ người hữu trách trong việc quyết định công nhận cuộc hôn phối, giống như là lệ nộp cheo và mời trầu cheo khi xưa. Thông thường thì trong ba Chúa nhật liên tiếp trước ngày cưới, thừa tác viên sẽ thông báo công khai việc đôi nam nữ xin kết hôn trước hoặc sau thánh lễ. Nội dung Rao Hôn Phối thường nêu rõ tên họ, cha mẹ, xuất thân của cả hai người, và mời gọi giáo giáo dân trong xứ nếu ai biết có điều gì ngăn trở thì phải báo cho cha chánh xứ. Việc này vừa thể hiện tính minh bạch của hôn nhân, vừa bảo đảm sự công nhận của cộng đoàn khi hôn lễ được cử hành trong nhà thờ.
Lễ Tế tơ hồng vốn bắt nguồn từ niềm tin dân gian về Nguyệt Lão - vị thần se duyên cho đôi lứa bằng sợi tơ hồng. Vào ngày cưới, đôi tân hôn bày hương án ra giữa sân, thắp nhang và lễ tạ Nguyệt Lão đã se kết duyên lành. Theo ghi nhận của Vũ Văn Khiếu trong Đất lề quê thói (1968), thì đến giữa thế kỷ XX, lễ này hầu như đã bị bỏ hẳn. Có lẽ là do niềm tin vào Nguyệt Lão và sợi tơ hồng đã không còn mạnh mẽ trong văn hóa Việt Nam.
(còn nữa)
KỲ PHONG
Bình luận