Sống ở thành phố Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên cũ, tỉnh Đắk Lắk ngày nay), Trần Huiền Ân là bút danh của Trần Sĩ Huệ, sinh năm 1937, người làng Vân Hòa, tổng Sơn Xuân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên (cũ). Ngoài nghề giáo, ông bắt đầu viết từ năm 1957, cả cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông gắn chặt với Phú Yên nói riêng, Việt Nam nói chung.
Từ khoảng nửa đầu thập niên 1960, ông thường có thơ đăng trên tuần báo “Tuổi Xanh” (in ở Sài Gòn), và một số bài báo ấy được chọn làm “Bài Học Thuộc Lòng” trong vài sách Quốc Văn bậc tiểu học ở miền Nam thời trước; chẳng hạn bài “Chuyến Đi Dài” (1960) và bài “Quê Em” (1964), mà mỗi câu đều nhắc tới một địa danh của nước Việt, sớm gieo mầm yêu Tổ Quốc ở những tâm hồn trẻ thơ trong trắng.
Ông sáng tác và nghiên cứu nhiều lãnh vực. Về thơ, đã in chí ít năm thi phẩm (khoảng từ năm 1960-2007). Về văn xuôi đã xuất bản chừng năm đầu sách (1997-2025). Ông có tám biên khảo giá trị về Phú Yên (khoảng 1995-2019), và về tục ngữ và ca dao trên tạp chí Nam Phong (2017).
Tháng 9.2025, xấp xỉ tuổi chín mươi, ông in “Rồng Chầu Ngoài Huế - Ngựa Tế Đồng Nai” trình bày về địa lý - lịch sử - văn hóa Việt Nam theo quá trình Nam tiến khởi từ năm 1558 với chúa Tiên, tức Nguyễn Hoàng (1525-1613).
Bạn đọc chưa kịp đọc xong khoảng 380 trang cuốn sách nói trên thì sang đầu năm 2026 lại được cầm trên tay thêm cuốn nữa: “Văn hóa văn nghệ trên tạp chí Bách Khoa”, do Nxb Tổng Hợp TPHCM ấn hành, 232 trang ruột (16x24cm), giá bìa 150.000 đồng.
Tổng quan về sách “Văn hóa văn nghệ trên tạp chí Bách Khoa”
Trần Huiền Ân giúp chúng ta biết được rằng tạp chí Bách Khoa từ số 1 (15.1.1957) tới số chót (19.4.1975), ra được 426 số (tr. 13), tính luôn số 359 (15.12.1971) bị chánh quyền Sài Gòn tịch thu (tr. 14); như vậy, đã “thọ” được “18 năm 3 tháng 4 ngày” (tr. 5) - lâu nhất trong làng báo chí miền Nam thời trước (tr. 221).
Tên tạp chí là Bách Khoa (tr. 5); nhưng do thời cuộc và chánh sách báo chí ở miền Nam, từ số 195 (15.12.1965) đổi thành Bách Khoa Thời Đại; từ số kép 313-314 trở lại là Bách Khoa; với hai số 378 (1,10.1972) và 379 (15.10.1972) mang tên Đặc San Bách Khoa; từ 1.11.1972 tới 19.4.1975 trở thành Giai Phẩm Bách Khoa, và không được đánh số từ 380 tới 426; do đó, tòa soạn phải ghi ký hiệu để bạn đọc nhận biết (tr. 6).
Tòa soạn đặt tại số 55 Bà Huyện Thanh Quan (các số 1-5), rồi về số 412-414 Trần Hưng Đạo (các số 6-39); từ số 40 (1.9.1958) đến số chót đặt 160 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), Sài Gòn (tr. 12). [Đây là nhà riêng ông Lê Ngộ Châu. (HK)]
Mỗi số thường dày khoảng 90-100 trang (tr. 7); khổ báo 16x24cm, riêng ba số 231 (15.8.1966), 232 (1.9.1966), và 233 (15.9.1966) vì không có giấy đúng cỡ phải in khổ 14,5x21,5cm (tr. 12).
Số lượng phát hành trung bình là 4.000 bản, thấp nhất là 3.000 bản, cao nhất là 8.000 bản (tr. 13).
Chủ Nhiệm sáng lập là Huỳnh Văn Lang (1922-2023), người Trà Vinh, làm Giám đốc Viện Hối Đoái (thời Đệ Nhứt VNCH); đến số 195 (15.2.1965) ghi thêm Lê Ngộ Châu là Quản nhiệm; từ số 240 (1.1.1967) ghi Lê Ngộ Châu là Chủ nhiệm; từ số 377 (14.9.1972) cho tới số chót ghi Lê Ngộ Châu là Chủ trương (tr. 9).
Quê quán làng Phú Tài, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (cũ), và từng làm hiệu trưởng một trường tư tại Hà Nội, Lê Ngộ Châu (1923-2006) chính là trụ cột của Bách Khoa (tr. 10). Những bài ông viết trên tạp chí đều ghi tên là Bách Khoa (tr. 11).
Bài đăng tạp chí được trả nhuận bút sòng phẳng, kịp thời và nhận báo biếu trong ba tháng (sáu số); riêng số nào có bài đăng thì được biếu hai bản. Cộng tác viên lâu dài được gởi báo biếu thường xuyên, ngay cả sau khi ngưng cộng tác (tr. 13).
Nội dung Bách Khoa rất phong phú, gồm nhiều loại biên khảo, nghị luận, sáng tác. Tuy nhiên, tập sách của Trần Huiền Ân giới hạn khảo sát Bách Khoa trong tám chủ điểm là: (1) Văn hóa miền Nam (tổng quát); (2) Tính chất phản kháng trong văn học; (3) Dân ca và nhạc cụ; (4) Đất nước quê hương và phong tục; (5) Về hội ngộ, giao kết, hôn nhân; (6) Ca dao về mười hai con giáp; (7) Các dân tộc thiểu số; (8) Các vấn đề khác.
Kết thúc sách, Trần Huiền Ân nhận xét: “Bằng sự điều hành khéo léo, ông Lê Ngộ Châu đã mời gọi được sự cộng tác của bậc trí thức lão thành, các học giả uyên bác, cũng như những cây bút trẻ năng nổ, linh hoạt, để tạo ra được một nội dung phong phú, được mọi giới bạn đọc yêu chuộng” (tr. 221). Ông cho rằng tất cả cộng tác viên của Bách Khoa đều “nêu cao tinh thần Dân Tộc Độc Lập, Tự Chủ, Tự Quyết, chống lại mọi áp đặt phi lý từ bên ngoài, chống lại các thế lực ngoại xâm”,... (tr. 223)
Cảm nghĩ của một bạn đọc
Viết về sách báo miền Nam trước 1975 là việc không đơn giản. Nxb Tổng Hợp TPHCM phải chăng đã ghi một “điểm son” khi xuất bản tập sách này? Nó giúp giới nghiên cứu có một cái nhìn bao quát và khách quan về một tạp chí tên tuổi, uy tín ở miền Nam khi trước. Nó bổ ích cho giảng viên và sinh viên khoa báo chí, và nên là một tài liệu tham khảo dành cho các luận văn, luận án về báo chí Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.
Huệ Khải (6.1.2026)
Bình luận