THÚ VỊ ĐỊA DANH BÀ RỊA
Phường Bà Rịa mới của TPHCM hình thành sau khi nhập các phường Phước Trung, Phước Nguyên, Long Toàn và Phước Hưng của TP Bà Rịa cũ. Ban đầu, năm 1867, người Pháp đặt Bà Rịa làm tên của một tỉnh. Trải qua nhiều lần thay đổi về địa giới và tên gọi hành chính, đến năm 1991, tên Bà Rịa đã được ghép thành tên tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khi tỉnh này thành lập. Năm 2012, tên Bà Rịa được đặt cho thành phố trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh, đó là thành phố Bà Rịa.

Từ cuối thế kỷ XVII, cụ thể là năm 1690, sách “Đại Nam thực lục tiền biên” đã đề cập đến địa danh Bà Rịa: “Năm Canh Ngọ (1690), Cai cơ Nguyễn Hữu Hào đem quân đi đánh Nặc Thu, vua Chân Lạp, rồi rút từ Bích Đôi (Chân Lạp) về đóng ở Bà Rịa”. Còn theo “Lịch sử truyền giáo ở Nam Kỳ, 1658-1813”, trong danh mục họ đạo ở Đồng Nai có kể đến giáo xứ Bà Rịa, rằng vào năm 1747 đã có 140 giáo dân. Ngoài ra, địa danh Bà Rịa cũng được Lê Quý Đôn nhắc tới trong sạch “Phủ biên tạp lục” qua sự kiện “Tháng 4 năm Bính Thìn (1776) chúa Nguyễn Phúc Thuần đã bỏ Phú Xuân chạy chạy vào xứ Bà Rịa”. Sau này, địa danh Bà Rịa còn được nhắc đến nhiều lần trong một số sử sách, tài liệu, nhưng đều là tên gọi để chỉ xứ đất, vùng đất, địa hình, công trình xây dựng, còn Bà Rịa với tư cách là tên một đơn vị hành chính chỉ xuất hiện lần đầu tiên ngày 9.11.1864, khi Thống đốc Nam Kỳ De la Grandìere ra nghị định thành lập Nha Nội chính, với huyện Phước An, tương đương phần đất liền Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, được đổi thành hạt tham biện Bà Rịa, là một trong 13 hạt tham biện của miền Đông Nam.
Có nhiều giả thuyết và cách giải thích khác nhau về cái tên Bà Rịa:
Sử gia Trịnh Hoài Đức (1765-1825), trong cuốn “Gia Định thành thông chí” viết: “Bà Rịa là ở đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng (...). Tân Đường thư nói: Bà Lỵ ở ngay phía Đông Nam Chiêm Thành, từ Giao Châu đi ghe theo biển, trải qua các nước Xích Thố, Đan Đan rồi đến Đại địa châu Đà Mã (cũng gọi là Mã Lễ, quốc tục xỏ tai, đeo hoa, lấy một bức vải quấn ngang lưng) (...) Chữ Lợi âm là lục địa thiết âm là “lịa”, vậy nghi chữ Bà Rịa tức nước Bà Lợi thuở xưa...”. Trong “Đại Nam nhất thống chí” - Quốc sử quán triều Nguyễn - biên soạn trong 17 năm (1865-1882), các tác giả cũng có quan điểm gần với Trịnh Hoài Đức khi cho rằng Bà Rịa là tên núi, còn gọi là núi Bà Địa: “Núi Bà Địa ở Đông Nam huyện Phước An 8 dặm, núi đá lởm chởm ngó xuống chợ Long Thạnh, có đường lớn ngang qua...”. Cụ thể, ở mục Thị Điếm (chợ quán), “Đại Nam nhất thống chí” ghi rõ: “Chợ Hắc Lăng: ở thôn Hắc Lăng, huyện Phước An, gần đó có núi Bà Rịa, có tên là chợ Bà Rịa”. Cuốn “Đại Nam quốc âm tự vị” của Huình Tịnh Của (Imprimerie Rey, Couriol, Sài Gòn 1895) cũng giải thích tương tự: “Bà Rịa: tên xứ ở tại Hắc Lăng, bây giờ là tiếng kêu chung của cả hạt Phước Tuy”. Các tác giả bộ “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh” đồng kiến giải với Trịnh Hoài Đức, khi cho rằng tên vùng đất Bà Rịa xuất hiện sớm nhất trong sử sách với tư cách là tên gọi một ngọn núi, một cái chợ, một xứ đất, lần đầu tiên được mang tên một tỉnh là vào năm 1865, do người Pháp đặt.
Ngoài ra, cũng có một cái tên “Bà Rịa” khác, hình thành từ một trang sử khác, tồn tại độc lập với các giả thiết về địa danh nêu ở trên, xuất phát từ một nhân vật nữ tên là Rịa. Theo đó, bà Rịa là người có công lớn trong quá trình khai phá vùng đất Long Điền - Xuyên Mộc từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau này). Sách“Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức ghi chép về bà Rịa như sau: “Bà Rịa là người Phú Yên, sinh năm 1665, mất năm 1759. Năm 15 tuổi, thời chúa Nguyễn Phúc Tần, bà có mặt trong đoàn lưu dân từ Dinh Trấn Biên (Phú Yên) vào Nam lập nghiệp. Thật ra, cho đến nay người ta không rõ bà Rịa họ gì, nhưng do có công lớn trong việc khai hoang lập ấp, lại nổi tiếng là người đức độ, uy tín lớn trong vùng, nên bà được chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1752) phong tước Hàm Nghè và sắc phong mang họ Nguyễn. Vì thế mà bà có tên Nguyễn Thị Rịa. Bà Rịa sống qua năm đời chúa Nguyễn và mất vào năm 1759 (dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát) tại Hắc Lăng, Phước Liễu, nay là xã Tam Phước, huyện Long Điền, hưởng thọ 94 tuổi”. Để ghi nhớ công lao của bà, nhân dân địa phương lập khu mộ để thờ cúng và tôn vinh bằng câu đối: “Bà Rịa anh linh di vạn cổ/ Nương nương hiển hách chứng thiên kim”. Phần bia mộ của bà khắc dòng chữ “Nguyễn Thị Rịa tiên nương”. Mộ và miếu thờ bà Rịa tọa lạc tại xã Tam Phước, huyện Long Điền. Năm 1902, Trường Viễn đông bác cổ Đông Dương xây lại mộ bà. Sau đó, khu mộ có 2 lần trùng tu nữa vào năm 1936 và 1972. Hiện tại, đây là một trong những điểm tham quan mà du khách thường đến khi muốn tìm hiểu về đất và người xứ này.
Bà Rịa còn là tên của một họ đạo lâu đời, cũng là tên của một giáo hạt (tiền thân của hạt Bà Rịa là hạt Phước Lễ). Họ đạo Bà Rịa xưa có tên là Phước Lễ. Từ năm 2005, khi giáo phận Bà Rịa được thiết lập (tách ra từ giáo phận Xuân Lộc), nhà thờ Bà Rịa được chọn làm nhà thờ Chánh tòa của giáo phận mới. Người ta chưa tìm ra mốc ngày tháng thành lập chính thức họ đạo này, nhưng theo tài liệu của Hội Thừa Sai Paris thì từ năm 1747 đã có 140 người Công giáo tại Bà Rịa. Trước năm 1861, họ đạo có khoảng 400 giáo dân, sống tản mác trong làng Phước Lễ. Trong thời gian này, Bà Rịa chưa có linh mục trực tiếp coi sóc. Sau 1862, nơi đây trở thành họ đạo chính trong địa hạt Phước Tuy và bắt đầu có linh mục thường trực phụ trách. Ngôi nhà thờ đầu tiên của nằm bên cạnh bờ sông Dinh. Năm 1865, cha Errard đến nhậm sở Bà Rịa, đã dời nhà xứ về địa điểm hiện nay và dựng một nhà nguyện nhỏ. Ngày thường, các giáo hữu đọc kinh dâng lễ tại nơi mới, còn Chúa nhật thì cộng đoàn vẫn quy tụ về nhà thờ cũ. Trong thời gian ở Bà Rịa, cha Errard đã xây huyệt mộ chôn cất 288 vị tử đạo bị thiêu sống trong biến cố đốt ngục Phước Dinh, ngay trên chính nền ngục thất. Cũng tại đây, ngài xây một ngôi nhà nguyện mà nay gọi là “Nhà Thờ Mồ”. Nhà nguyện được cha Gabriel Long trùng tu năm 1930. Năm 1874, khi trở lại Bà Rịa lần thứ hai sau sáu năm làm cha sở Biên Hòa, cha Errard cùng với cha phụ tá Boutier đã tiến hành việc xây nhà thờ mới. Ngày 14.5.1879, Đức cha Colombert cùng với Đức cha Pontvianne (Giám mục Giáo Huế) cử hành lễ làm phép trọng thể thánh đường Bà Rịa dâng kính hai thánh Tông đồ Giacôbê và Philipphê, như cách lưu giữ và gợi nhớ địa danh truyền giáo “Cap Saint Jacques” trực thuộc địa hạt Bà Rịa - Vũng Tàu (về mũi “Cap Saint Jacques - thánh Giacôbê”, chúng tôi đã nêu ở những bài trước viết về Vũng Tàu - NV).
Lật lại lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, dễ dàng nhận ra vùng đất Bà Rịa được các thừa sai Paris (M.E.P) đến rao giảng Tin Mừng từ cuối thế kỷ 17, và lập nên những họ đạo có truyền thống rất xưa cũ như giáo xứ Phước Lễ (giáo xứ Bà Rịa về sau), giáo xứ Đất Đỏ… Năm 1954, một số người Công giáo từ Bắc vào Nam và định cư tại vùng Phước Tỉnh trong các xứ Phước Tỉnh, Tân Phước, Phước Lâm và Hải Lâm; một số khác tập trung tại vùng đất Bà Rịa trong các xứ Long Tâm, Long Toàn, Long Kiên, Thủ Lựu, Dũng Lạc và Phước Tân. Năm 1975, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Lãng quyết định thành lập giáo hạt Phước Lễ, tách từ giáo hạt Long Hương, bao gồm các xứ trong địa bàn của thị xã Bà Rịa, huyện Long Đất và huyện Xuyên Mộc. Cuối năm 2008, do nhu cầu mục vụ, Đức cha Tôma Nguyễn Văn Trâm, Giám mục giáo phận, quyết định thành lập giáo hạt Xuyên Mộc, tách từ giáo hạt Phước Lễ và đổi tên giáo hạt Phước Lễ thành giáo hạt Bà Rịa.
Tài liệu tham khảo:
- Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức, Phạm Hoàng quân dịch)
- Đại Nam quốc âm tự vị (Huình Tịnh Của)
- Vũng Tàu Xưa Và Nay (Huỳnh Minh)
- Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu (Thạch Phương - Nguyễn Trọng Minh chủ biên)
- Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1987)
- Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Biên Hòa (Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu)
- Lịch sử giáo xứ Chánh tòa Bà Rịa (lưu hành nội bộ)
MINH HẢI thực hiện
Bình luận