Tên gọi các phường mới nhưng lại vốn quá thân quen (kỳ 4)

Quận 7 sau sát nhập còn 4 phường Tân Mỹ, Tân Hưng, Tân Thuận và Phú Thuận:

Các phường Tân Phong, phường Tân Hưng, phường Tân Kiểng và phường Tân Quy nhập thành một phường mới lấy tên là Tân Hưng. Tân Hưng là tên thôn từ năm 1820 thuộc tổng Tân Phong, huyện Tân Long, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Năm 1836 trở thành một thôn của tổng Tân Phong Thượng, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định. Đây cũng là tên một ngôi chợ được xây năm 1970.

Với tên phường Tân Thuận được đặt tên sau khi đã nhập phường Bình Thuận, phường Tân Thuận Đông và phường Tân Thuận Tây, thì theo các nguồn tài liệu, tên làng Tân Thuận có từ thế kỷ 19. Làng này có lúc Chúa Nguyễn cho khai khẩn đất Gia Định. Làng Tân Thuận từ 1930 được tách ra làm hai làng Tân Thuận Đông và Tân Thuận Tây thuộc huyện Nhà Bè. Tân Thuận cũng là tên cây cầu bắc qua kinh Tẻ. Cầu được xây năm 1925, sau khi đào kinh Tẻ năm 1905, sửa chữa năm 1993.

Hai phường Tân Phú và Phú Mỹ hợp lại đặt tên mới là Tân Mỹ. Tuy nhiên, theo tra cứu thì Tân Mỹ chỉ là tên một con đường đã có từ lâu (người dân quen gọi là đường vào kho lương thực), được chính thức đặt tên ngày 7.4.2000.

Cuối cùng, phường Phú Thuận và một phần phường Phú Mỹ nhập thành phường Phú Thuận mới. Đây tên một xã thuộc huyện Nhà Bè cũ, đến 1997, khi quận 7 được thành lập thì lập phường Phú Thuận thuộc quận 7.

 

dinhbinhdong.jpg (151 KB)
Đình Bình Đông

Quận 8 còn 3 phường Chánh Hưng, Bình Đông, Phú Định:

Phường Chánh Hưng được ghép từ các phường Rạch Ông, Hưng Phú, phường 4 và một phần phường 5. Chánh Hưng là tên thôn của hạt Chợ Lớn. Trong sách xã thôn do Trịnh Hoài Đức viết năm 1818, thôn Chánh Hưng chưa có. Mãi tới năm 1836, dưới triều Minh Mạng, khi các thôn lập xong địa bộ, thôn Chánh Hưng mới xuất hiện thuộc tổng Tân Phong Trung, huyện Tân Long. Năm 1888, khi Nam Kỳ đã thuộc Pháp, tên thôn Chánh Hưng vẫn còn, nhưng lại thuộc tổng Dương Hòa Trung, hạt Sài Gòn, khi huyện Tân Long đã bị bãi bỏ. Tới năm 1910, thôn Chánh Hưng không còn nữa vì một phần đã nhập vào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn từ 1907, phần còn lại nhập về xã Bình Hưng thuộc huyện Bình Chánh. Về mặt Công giáo, ở địa bàn quận 8 có giáo xứ Chánh Hưng. Hơn 60 năm trước, khi khu vực này còn hoang vu, dân cư thưa thớt, đã những nhóm giáo dân tứ phương về đây lập nghiệp. Lịch sử giáo xứ ghi nhận từ những năm 1963-1968, khi bà con có đạo đã quy tụ ngày càng nhiều, giáo dân vẫn phải đi đò xa xôi qua nhà thờ Bình Xuyên đi lễ. Sau một thời gian dài, một nhà nguyện tạm được lập nên. Đến năm 1969, Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình đã cấp cho giáo dân vùng này 10 nền nhà và tiền để xây dựng giáo điểm Chánh Hưng. Đầu năm 1971, nhà thờ Chánh Hưng hoàn thành với kết cấu khung sắt, mái tôn, nền xi măng, chọn Thánh Phanxicô Xaviê làm quan thầy. Năm 1991, giáo điểm được nâng lên thành giáo xứ Chánh Hưng.

Khi nhập các phường 6, phường 7 và một phần phường 5, cùng xã An Phú Tây của huyện Bình Chánh, đã hình thành một phường mới có tên là Bình Đông. Bình Đông là tên thôn từ năm 1820 thuộc tổng Tân Phong, huyện Tân Long, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Năm 1880 là thôn của tổng Tân Phong Hạ, hạt Chợ Lớn. Năm 1910, thôn Bình Đông vẫn còn, hạt Chợ Lớn đã đổi thành tỉnh. Sau thời gian đó và trước năm 1944, thôn Bình Đông được sáp nhập vào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, chịu sự phân chia, không còn là đơn vị hành chính nữa. Địa danh Bình Đông chỉ còn tồn tại ở một vài địa danh như bến Bình Đông, đình Bình Đông (đình xây dựng khoảng năm 1852) của người dân trong vùng. Bình Đông cũng là tên được đặt cho một giáo xứ thành lập 1956. Thánh lễ đầu tiên theo những người gắn bó với giáo xứ từ ngày đầu là ở một kho gạo bên cạnh nhà thờ hiện tại, lúc đó chưa có nhà thờ. Sau này nhà thờ mới được xây dựng sau khi giáo xứ mua được miếng đất rộng rãi.

Phường Xóm Củi, phường 14, phường 15, phường 16 sau khi gộp lại thành phường Phú Định. Phú Định là tên địa danh cũ của đất Gia Định xưa. Cụ thể là tên một làng, một bến. Trong danh sách xã thôn lập năm 1836 dưới triều Minh Mạng đã thấy có thôn Phú Định. Đến khi Pháp chiếm Nam kỳ lục tỉnh, chia lại địa bàn thành phố ngày nay thành hai hạt Sài Gòn Chợ Lớn, thì thôn Phú Định thuộc tổng Long Hưng Thượng, hạt Chợ Lớn. Năm 1888, hạt Chợ Lớn đổi thành tỉnh Chợ Lớn, Phú Định bấy giờ được gọi là làng và rộng hơn trước đó, dồn 16 xã thôn lại thành 7 làng. Từ 1944, làng Phú Định nhập vào thành phố. Đến năm 1959, chính quyền Sài Gòn lập phường và Phú Định trở lại thành đơn vị hành chính gọi là phường Phú Định thuộc quận 7. Sau năm 1975, quận 7 nhập vào quận 8 và phường Phú Định nhập với phường Bến Đá thành phường 16, quận 8.

 

nhathoHoaHung.jpg (191 KB)
Nhà thờ Hòa Hưng

Quận 10 sau sát nhập còn 3 phường là Vườn Lài, Diên Hồng, Hòa Hưng:

Phường Vườn Lài hình thành từ các phường 1, phường 2, phường 4, phường 9 và phường 10. Theo đó, tên Vườn Lài theo các tài liệu xuất phát từ việc xưa có khu chuyên trồng lài để lấy hoa ướp trà trước 1945. Có một điều thú vị là tên địa danh đặt theo tên cây trồng trong vùng ở thành phố có khá nhiều, như gò Cây Mai, đồn Cây Mai (quận 11), Mười tám thôn Vườn Trầu (Hóc Môn), ấp Cây Trôm (Củ Chi), khu Vườn Thơm Bình Chánh, khu Vườn Chuối, Vườn Xoài (quận 3)…

Các phường 12, phường 13 và phường 15 sau sát nhập lấy tên mới là Hòa Hưng. Hòa Hưng là địa danh cũ của đất Gia Định xưa. Trong danh sách xã thôn do Trịnh Hoài Đức lập năm 1818, có thôn Tân Hưng thuộc tổng Bình Trị. Về sau tổng này chia làm ba tổng thì thôn này thuộc tổng Bình Trị Trung. Đến năm 1836, dưới triều vua Minh Mạng, thôn Tân Hưng được mô tả xứ Bàu Tròn chùa Từ Ân. Đối chiếu với bản đồ ngày nay, thôn Tân Hưng vào vị trí vùng Hòa Hưng sau này. thể là thôn Tân Hòa đã được nhập vào thôn Tân Hưng và đổi tên Hòa Hưng vào những năm sau đó, để đến thời Pháp thuộc, danh sách làng xã năm 1880 chính thức ghi xã Hòa Hưng thuộc tổng Bình Chánh Thượng của hạt thứ 20. Trong khu vực có nhà thờ Hòa Hưng, ban đầu vốn là họ nhánh của giáo xứ Chí Hòa, thành lập vào năm 1946, với khoảng 50 gia đình và 300 giáo dân, cùng một nhà nguyện nhỏ thô sơ. Đến năm 1952, được nâng lên hàng giáo xứNhư vậy, giáo xứ Hòa Hưng đã hiện diện gần 80 năm, với tên gọi gắn với lịch sử một vùng đất.

Cuối cùng là phường Diên Hồng, được lập từ các phường 6, phường 8 và phường 14. Tên gọi này không có gốc gác từ các địa danh, sự kiện gắn với đất Nam bộ, gợi nhớ đến Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần vào năm 1284 tại kinh thành Thăng Long. Ý nghĩa đoàn kết dân tộc trong mọi hoàn cảnh. Trên địa bàn này có một trường học mang tên Diên Hồng.

Tài liệu tham khảo:

- Từ điển Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (Thạch Phương - Lê Trung Hoa chủ biên)

- Địa danh Thành phố Hồ Chí Minh (Lê Trung Hoa)

- Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh (Lê Trung Hoa)

- Đường phố TPHCM (Nguyễn Đình Tư - Nguyễn Quyết Thắng)

- Sài Gòn Năm Xưa (Vương Hồng Sển)

- Giới thiệu Sài Gòn Xưa - Ấn tượng 300 năm (Sơn Nam)

- Lược sử giáo xứ Hòa Hưng, giáo xứ Chánh Hưng (Tài liệu lưu hành nội bộ)

 

Minh Hải thực hiện

tin liên quan

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Tiếng xao động trên tàu dừa
Tiếng xao động trên tàu dừa
Có những chuyến đi không nhằm tìm kiếm điều gì cụ thể, chỉ đơn giản là để lòng mình được lắng lại. Tôi đến miền Tây trong những ngày cần một khoảng yên đủ rộng để nghe rõ hơn tiếng nói bên trong mình.
Triết lý của giấc mơ
Triết lý của giấc mơ
Cơn mưa chiều làm xua tan cái nóng hầm hập trong căn phòng trọ chật cuối con đường nhỏ ngoại ô thành phố. Tôi với tay lật lại cuốn Nhà giả kim đã sờn gáy.
Nơi Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu
Nơi Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu
Có vị trí tựa núi, hướng biển, Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu ngoài công trình nhà thờ còn có nhiều tượng, phù điêu đẹp.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội
Nhắc đến Chân phước Anrê Phú Yên, không thể không kể về Dinh Trấn Biên Phú Yên, là một trung tâm hành chánh, quân sự vang bóng một thời của Đàng Trong, cũng là nơi có nhà nguyện đầu tiên trong công cuộc truyền giáo ở Phú Yên.
Mùa trở về cuối cùng
Mùa trở về cuối cùng
Cuốn sách gần đây nhất tôi đọc mang tựa đề “Khi đàn sếu bay về phương Nam” của tác giả người Thụy Điển Lisa Ridzén. Câu chuyện viết về ông lão Bo sống một mình cùng chú chó tên Sixten.
Một biểu tượng của đức tin
Một biểu tượng của đức tin
Nhà thờ Mồ tuy chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn nhưng lại là nơi lưu giữ lịch sử đức tin kiên cường của cộng đoàn tín hữu Bà Rịa.